HOÀN THIỆN MỘT SỐ QUY ĐỊNH VỀ TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG CỦA NHÀ NƯỚC TRONG GIAI ĐOẠN MỚI
11/06/2026
Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2017 đang được Bộ Tư pháp xây dựng với nhiều điểm mới đáng chú ý như: Bổ sung nguyên tắc áp dụng pháp luật đối với phạm vi trách nhiệm bồi thường của Nhà nước; sửa đổi, bổ sung một số nội dung thuộc phạm vi trách nhiệm bồi thường của nhà nước trong hoạt động quản lý hành chính; đơn giản hóa thủ tục hành chính, chuyển đổi số trong quản lý nhà nước, trong quá trình yêu cầu bồi thường và giải quyết bồi thường; tổ chức và hoạt động của các cơ quan giải quyết bồi thường phù hợp với mô hình tổ chức của các cơ quan sau sắp xếp…
Trong 08 triển khai thi hành, Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2017 (Luật năm 2017) đã khẳng định vai trò là cơ sở pháp lý quan trọng bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức bị thiệt hại do hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ gây ra; góp phần củng cố niềm tin của Nhân dân đối với chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước. Tuy nhiên, trước yêu cầu tiếp tục xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, đẩy mạnh cải cách hành chính gắn với chuyển đổi số, đồng thời khắc phục những khó khăn, vướng mắc phát sinh trong thực tiễn, việc sửa đổi, bổ sung các quy định của Luật đang trở thành yêu cầu cần thiết nhằm nâng cao hiệu quả cơ chế bồi thường, bảo đảm tốt hơn quyền con người, quyền công dân trong giai đoạn mới.
Hiện nay, Bộ Tư pháp đang nghiên cứu xây dựng dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước (dự thảo Luật) gồm 02 điều, tập trung sửa đổi, bổ sung một số quy định liên quan đến đối tượng được bồi thường, phạm vi trách nhiệm bồi thường của nhà nước, cơ quan giải quyết bồi thường, thủ tục giải quyết yêu cầu bồi thường, kinh phí bồi thường, trách nhiệm hoàn trả, trách nhiệm các cơ quan nhà nước trong công tác bồi thường nhà nước với 03 định hướng lớn:
Định hướng thứ nhất: Tiếp tục thể chế hóa kịp thời, đầy đủ các chủ trương, đường lối mới của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước về tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ quyền con người, quyền công dân. Trong đó, cụ thể hóa các chỉ đạo của Đảng tại Quy định số 231-QĐ/TW ngày 17/01/2025 của Bộ Chính trị về bảo vệ người đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực (Quy định số 231-QĐ/TW).
Định hướng thứ hai: Tập trung sửa đổi, bổ sung, thay thế một số quy định nhằm nâng cao hiệu quả công tác bồi thường nhà nước, đáp ứng tốt hơn quyền yêu cầu bồi thường của người bị thiệt hại; đồng thời, nâng cao trách nhiệm của cơ quan nhà nước, người thi hành công vụ trong thực thi công vụ; góp phần phòng ngừa vi phạm, siết chặt kỷ luật, kỷ cương hành chính; cải cách, đơn giản hóa thủ tục hành chính và ứng dụng chuyển đổi số trong quản lý nhà nước, trong quá trình yêu cầu bồi thường và giải quyết bồi thường; tổ chức và hoạt động của các cơ quan giải quyết bồi thường phù hợp với mô hình tổ chức của các cơ quan sau sắp xếp và phù hợp với chủ trương đẩy mạnh phân cấp, phân quyền.
Định hướng thứ ba: Bảo đảm tính tương thích với các điều ước quốc tế có liên quan mà Việt Nam là thành viên; tính thống nhất, đồng bộ với các luật, nghị quyết có liên quan, nhất là các luật, nghị quyết được Quốc hội ban hành trong thời gian vừa qua; tham khảo có chọn lọc kinh nghiệm nước ngoài, phù hợp với điều kiện thực tiễn Việt Nam để bảo đảm tính khả thi.
Sửa đổi, bổ sung một số quy định của Luật bảo đảm phù hợp với các luật có liên quan
Đối với các thuật ngữ tại Điều 3 Luật năm 2017, Bộ Tư pháp đề xuất sửa đổi theo hướng đồng bộ và rõ ràng hơn, cụ thể: Bổ sung người “được chỉ định” vào khái niệm “người thi hành công vụ” tại khoản 2 nhằm thống nhất với quy định của Luật Cán bộ, công chức năm 2025, đồng thời bổ sung đối tượng “cá nhân, pháp nhân được người bị thiệt hại, người thừa kế của nguời bị thiệt hại, tổ chức kế thừa quyền, nghĩa vụ của tổ chức bị thiệt hại, người đại diện theo pháp luật của người bị thiệt hại ủy quyền” vào khái niệm “người yêu cầu bồi thường” tại khoản 3 nhằm thống nhất với quy định về người có quyền yêu cầu bồi thường tại Điều 5 của Luật năm 2017.
Một số nội dung quan trọng khác được sửa đổi trong Dự thảo Luật như: Thay thế cụm từ “tháo dỡ” tại điểm a khoản 3 Điều 17 bằng “phá dỡ” để phù hợp với Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2020; sửa đổi, bổ sung khoản 6 Điều 17 để thống nhất với quy định về phạm vi trách nhiệm bồi thường của Nhà nước tại Luật Tố cáo năm 2018 và bổ sung trường hợp người đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí tiêu cực được bồi thường để thể chế hóa Quy định số 231-QĐ/TW; thay thế cụm từ “Tổng cục trưởng” tại khoản 14 Điều 17 bằng cụm từ “giữ chức vụ dưới Thứ trưởng và dưới tương đương Thứ trưởng” để bảo đảm thống nhất với Luật Tố tụng hành chính năm 2025; cụm từ “Tổng cục, cục, các đơn vị khác” thành “các đơn vị” tại điểm b khoản 1 Điều 33 và bỏ “cơ quan thuộc Chính phủ”, cụm từ “Cục Thi hành án dân sự và Chi cục Thi hành án dân sự” thành “Thi hành án dân sự cấp tỉnh” tại khoản 1 Điều 39... để phù hợp với các chức danh và cơ cấu tổ chức của một số cơ quan sau khi thực hiện sắp xếp lại tổ chức bộ máy; quy định rõ giá trị thiệt hại bồi thường được “tính bằng tiền Việt Nam” khoản 2 Điều 22 để thống nhất trong tổ chức thực hiện; thay thế cụm từ “cơ sở y tế từ cấp huyện trở lên” bằng “thành “cơ sở khám bệnh, chữa bệnh theo quy định của pháp luật” tại khoản 1 Điều 49 Luật TNBTCNN để phù hợp với sự thay đổi của mô hình chính quyền địa phương do hiện nay không còn cấp huyện và phù hợp với Luật Khám bệnh, chữa bệnh năm 2023…
Về kinh phí bồi thường, Luật năm 2017 đang quy định nguồn kinh phí bồi thường đang được bảo đảm ở 02 cấp: Cấp tỉnh (Sở Tài chính) và cấp Trung ương (Bộ Tài chính) và hàng năm việc lập dự toán căn cứ vào số tiền bồi thường của năm trước. Tuy nhiên, theo quy định của Luật Ngân sách nhà nước, ngân sách địa phương gồm ngân sách cấp tỉnh và ngân sách cấp xã và đơn vị sử dụng ngân sách là đơn vị dự toán ngân sách được giao trực tiếp quản lý, sử dụng ngân sách. Mặt khác, hiện nay Luật năm 2017 mới chỉ quy định nguồn kinh phí để chi trả tiền bồi thường cho người bị thiệt hại mà chưa có quy định về kinh phí cho việc thực hiện công tác bồi thường nhà nước nói chung dẫn đến kinh phí cấp cho các cơ quan để thực hiện công tác bồi thường nhà nước là rất ít, thậm chí là không có, trong khi mục tiêu của công tác bồi thường nhà nước nhằm hướng đến phòng ngừa phát sinh các sai phạm dẫn đến bồi thường nhà nước. Vì vậy, Bộ Tư pháp đề xuất sửa đổi, bổ sung các Điều 60, Điều 61 và Điều 62 Luật TNBTCNN theo hướng cơ quan giải quyết bồi thường ở cấp nào thì cơ quan ở cấp đó đề nghị cấp kinh phí cho công tác bồi thường nhà nước và kết thúc năm ngân sách, cơ quan sử dụng kinh phí có trách nhiệm quyết toán kinh phí bồi thường. Bên cạnh đó, dự thảo Luật đã quy định về kinh phí cho công tác quản lý nhà nước về công tác bồi thường nhà nước; quy định thủ tục chi trả tiền bồi thường cho người bị thiệt hại theo hướng nhanh chóng, rút ngắn thời gian thực hiện và giao Chính phủ quy định chi tiết một số nội dung trong kinh phí bồi thường.
Hoàn thiện nhiều cơ chế bảo vệ quyền lợi người dân
Một trong những điểm mới nổi bật là việc dự thảo Luật đã thể chế hóa quy định của Đảng về bảo vệ người đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực tại Quy định số 231-QĐ/TW, theo đó đã bổ sung giải thích đối với các thuật ngữ: “người đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực”; “người thân của người đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực” tại Điều 3 của Luật năm 2017, phạm vi trách nhiệm bồi thường của Nhà nước tại Điều 17, cơ quan giải quyết bồi thường trong hoạt động quản lý hành chính tại Điều 33 để bảo đảm đồng bộ, thống nhất trong triển khai thực hiện. Việc sửa đổi, bổ sung này cũng đã đáp ứng yêu cầu về tiếp tục tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực trong giai đoạn mới theo Nghị quyết 04-NQ/TW ngày 01/4/2026 của Bộ Chính trị.
Về cơ chế giải quyết bồi thường trong hoạt động tố tụng hình sự, theo Luật năm 2017 việc giải quyết yêu cầu bồi thường trong hoạt động tố tụng hình sự được thực hiện tại cơ quan trực tiếp quản lý người thi hành công vụ gây thiệt hại (đoạn 2 khoản 2 Điều 4 Luật năm 2017), chỉ trong trường hợp người yêu cầu bồi thường không đồng ý với kết quả giải quyết bồi thường thì mới có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết theo thủ tục tố tụng dân sự. Trong khi đó, người bị thiệt hại trong hoạt động quản lý hành chính, tố tụng dân sự, tố tụng hành chính, thi hành án hình sự, thi hành án dân sự bên cạnh việc yêu cầu cơ quan trực tiếp quản lý người thi hành công vụ gây thiệt hại giải quyết bồi thường thì còn có quyền khởi kiện yêu cầu thiệt hại Tòa án giải quyết theo thủ tục tố tụng dân sự theo quy định tại khoản 1 Điều 52 của Luật hoặc yêu cầu giải quyết bồi thường trong quá trình tố tụng hình sự, tố tụng hành chính theo quy định tại Điều 55 của Luật. Quy định này chưa thực sự bảo đảm quyền, lợi ích và sự bình đẳng, công bằng giữa cơ chế giải quyết bồi thường trong hoạt động tố tụng hình sự so với các cơ chế giải quyết bồi thường ở lĩnh vực khác. Để giải quyết vấn đề này, dự thảo Luật đã bỏ quy định tại đoạn thứ 2 khoản 2 Điều 4 của Luật hiện hành để tăng quyền lựa chọn cơ quan giải quyết bồi thường của người bị thiệt hại đối với những vụ việc yêu cầu bồi thường trong hoạt động tố tụng hình sự, bảo đảm tốt hơn quyền lợi của cá nhân, tổ chức.
Bên cạnh đó, tại Điều 17 Luật năm 2017, cơ quan chủ trì soạn thảo đề xuất bổ sung một số hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ dẫn đến phát sinh trách nhiệm bồi thường của Nhà nước trong hoạt động quản lý hành chính để phù hợp với thực tiễn, như hành vi “hủy bỏ” giấy phép và các giấy tờ có giá trị như giấy phép, hành vi “không cấp” giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất trái pháp luật để giải quyết vấn đề về “khoảng trống” trong phạm vi trách nhiệm bồi thường của Nhà nước.
Cùng với đó, dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung Điều 44 quy định về tạm ứng kinh phí bồi thường theo hướng tăng mức tạm ứng từ “không dưới 50%” thành “không dưới 75%” giá trị các thiệt hại được tạm ứng; sửa đổi, bổ sung Điều 47 theo hướng quy định rõ việc ra quyết định giải quyết bồi thường trong mọi trường hợp (kể cả thương lượng thành hay thương lượng không thành) để làm rõ trách nhiệm “đến cùng” của cơ quan giải quyết bồi thường; sửa đổi thời gian có hiệu lực của quyết định giải quyết bồi thường từ sau 15 ngày lên từ sau 60 ngày kể từ ngày người yêu cầu bồi thường nhận được quyết định giải quyết bồi thường. Đồng thời bổ sung quy định người yêu cầu bồi thường và cơ quan giải quyết bồi thường có quyền thỏa thuận quyết định giải quyết bồi thường có hiệu lực sớm hơn và được ghi rõ trong biên bản thương lượng. Bên cạnh đó, dự thảo Luật cũng đã tăng thời hạn người yêu cầu bồi thường có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết yêu cầu bồi thường đối với Quyết định giải quyết bồi thường tại khoản 2 Điều 52 của Luật; bổ sung căn cứ tạm đình chỉ và đình chỉ giải quyết yêu cầu bồi thường tại Điều 50, Điều 51 của Luật. Các quy định mới này đều nhằm tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc trong thực tổ chức thi hành Luật năm 2017 thời gian qua và bảo đảm tốt hơn quyền lợi cho người yêu cầu bồi thường.
Về việc xem xét trách nhiệm hoàn trả, qua thực tiễn triển khai cho thấy, Luật năm 2017 chưa quy định về xác định trách nhiệm hoàn trả trong trường hợp người thi hành công vụ gây thiệt hại khi thực hiện đề xuất về đổi mới, sáng tạo được cơ quan có thẩm quyền cho phép và được cấp có thẩm quyền xác định đã thực hiện đúng chủ trương, có động cơ trong sáng, vì lợi ích chung; đồng thời, chưa quy định về các trường hợp được miễn hoàn trả khi người có trách nhiệm hoàn trả gây thiệt hại do lỗi vô ý thuộc trường hợp mắc bệnh hiểm nghèo có xác nhận của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh theo quy định của pháp luật hoặc lâm vào hoàn cảnh kinh tế đặc biệt khó khăn kéo dài do thiên tai, hỏa hoạn, tai nạn hoặc lập công lớn được người, cơ quan có thẩm quyền xác nhận. Do đó, dự thảo Luật đã sửa đổi, bổ sung các quy định này để bảo đảm tính khả thi trong việc tổ chức thực hiện và tính nhân văn trong xem xét trách nhiệm hoàn trả.
Cắt giảm, đơn giản hoá thủ tục hành chính về giải quyết bồi thường nhà nước
Về thủ tục giải quyết yêu cầu bồi thường, dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số quy định tại các Điều 41, 42, 43, 45 và 46 Luật hiện hành theo hướng cắt giảm thành phần hồ sơ yêu cầu bồi thường dựa trên dữ liệu, cắt giảm thời gian thực hiện thủ tục hành chính đảm bảo phù hợp với chủ trương cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính hiện nay đồng thời ứng dụng công nghệ thông tin trong việc yêu cầu bồi thường. Dự thảo Luật cũng quy định giao Chính phủ quy định chi tiết các nội dung về hồ sơ yêu cầu bồi thường, cách thức tiếp nhận hồ sơ yêu cầu bồi thường và việc xử lý hồ sơ, thương lượng việc bồi thường… để bảo đảm tính ổn định của Luật.
Tăng vai trò của địa phương trong giải quyết bồi thường nhà nước
Sau gần 01 năm thực hiện việc phân quyền các nhiệm vụ quản lý nhà nước trong lĩnh vực bồi thường nhà nước cho địa phương theo Nghị định số 121/2025/NĐ-CP ngày 11/6/2025 của Chính phủ quy định về phân quyền, phân cấp trong lĩnh vực quản lý nhà nước, Bộ Tư pháp thấy rằng việc phân quyền cho Ủy ban nhân dân cấp tỉnh thực hiện các nhiệm vụ như hiện nay là phù hợp, không ghi nhận khó khăn, vướng mắc trên thực tiễn. Theo đó, dự thảo Luật đã tiếp tục phân quyền 05 nhiệm vụ của Bộ Tư pháp cho Ủy ban nhân dân cấp tỉnh thực hiện gồm: (i) Kiến nghị cơ quan có thẩm quyền xem xét lại quyết định hoàn trả, quyết định giảm mức hoàn trả; (ii) Hỗ trợ người bị thiệt hại thực hiện thủ tục yêu cầu bồi thường; (iii) Kiến nghị cơ quan có thẩm quyền xử lý vi phạm trong việc giải quyết bồi thường, thực hiện trách nhiệm hoàn trả theo quy định của pháp luật; (iv) Kiến nghị người có thẩm quyền kháng nghị bản án, quyết định của Tòa án có nội dung giải quyết bồi thường theo quy định của pháp luật; (v) yêu cầu Thủ trưởng cơ quan trực tiếp quản lý người thi hành công vụ gây thiệt hại hủy quyết định giải quyết bồi thường trong trường hợp có một trong các căn cứ quy định tại khoản 1 và điểm a khoản 3 Điều 48 của Luật này mà không ra quyết định hủy. Việc phân quyền các nhiệm vụ này được đánh giá bảo đảm tính khả thi trong thực tiễn và tăng sự chủ động cho địa phương trong việc thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước về công tác bồi thường nhà nước.
Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước sẽ được trình Quốc hội xem xét, thông qua tại Kỳ họp thứ hai, Quốc hội khóa XVI.