ĐIỂM MỚI CỦA THÔNG TƯ LIÊN TỊCH THAY THẾ THÔNG TƯ LIÊN TỊCH SỐ 24/2011/TTLT-BTP-BQP NGÀY 15/12/2011 HƯỚNG DẪN THỰC HIỆN TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG CỦA NHÀ NƯỚC TRONG HOẠT ĐỘNG THI HÀNH ÁN DÂN SỰ
15/12/2015
Thi hành án là một trong các lĩnh vực hoạt động của Nhà nước thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước (Luật TNBTCNN), trong đó thi hành án dân sự là lĩnh vực phức tạp nhạy cảm, cũng dễ phát sinh nhiều yêu cầu bồi thường. Qua gần 04 năm triển khai thực hiện Thông tư liên tịch số 24/2011/TTLT-BTP-BQP ngày 15/12/2011 hướng dẫn thực hiện trách nhiệm bồi thường của Nhà nước trong hoạt động thi hành án dân sự (TTLT số 24) bên cạnh những kết quả đạt được cũng đã bộc lộ những hạn chế. Ngày 07/12/2015, Bộ Tư pháp, Bộ Quốc phòng đã ban hành Thông tư liên tịch số 17/2015/TTLT-BTP-BQP (TTLT thay thế TTLT số 24) quy định một số điểm mới nhằm tạo thuận lợi cho quá trình giải quyết bồi thường của cơ quan có trách nhiệm bồi thường cũng như công dân trong thực hiện quyền yêu cầu bồi thường trong hoạt động thi hành án dân sự.
1. Điểm mới về kết cấu, hình thức của TTLT thay thế TTLT số 24
So với TTLT số 24, thì kết cấu TTLT thay thế TTLT số 24 đã bổ sung 02 Điều mới (Điều 1: thời điểm xác định quyền yêu cầu bồi thường và Điều 2: thời gian không tính vào thời hiệu yêu cầu bồi thường); sửa đổi toàn diện về nội dung của 16 điều (thể hiện tại các Điều: 3, 4, 6, 7, 8, 9, 11, 12, 13, 14, 15, 16, 17, 19, 20 và 21) và giữ nguyên 03 điều (Điều 5, 10 và 18), bỏ 07 Điều của TTLT số 24 (các điều 1, 2, 14, 15, 17, 18, 20). TTLT thay thế TTLT số 24 gồm 04 Chương, 21 Điều, có sự thu gọn hơn so với TTLT số 24.
2. Điểm mới về nội dung của TTLT thay thế TTLT số 24
Thứ nhất, quy định thời điểm xác định quyền yêu cầu bồi thường, theo đó tại Điều 1 của TTLT thay thế TTLT số 24 đã có quy định thời điểm xác định quyền yêu cầu bồi thường, kể từ ngày cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành văn bản xác định hành vi của người thi hành công vụ là trái pháp luật. Quy định trên căn cứ vào khoản 1 Điều 4 Luật TNBTCNN, thể hiện quyền của người bị thiệt hại trong việc xác định mốc thời gian, ngày mà người bị thiệt hại có quyền yêu cầu giải quyết bồi thường của mình.
Thứ hai, khoảng thời gian không tính vào thời hiệu, cũng giống như Điều 1 đây là điểm mới của TTLT thay thế so TTLT số 24, sở dĩ có quy định này vì pháp luật về bồi thường chưa có hướng dẫn cụ thể về các khoảng thời gian không tính vào thời hiệu yêu cầu bồi thường dẫn tới việc thực hiện quyền yêu cầu của người bị chưa được bảo đảm. Theo đó, quan hệ về bồi thường là quan hệ pháp luật dân sự, Bộ luật Dân sự đã có quy định, tuy nhiên, pháp luật về bồi thường chưa có hướng dẫn cụ thể về nội dung này. TTLT thay thế TTLT số 24 đã có quy định cụ thể những khoảng thời gian không tính vào thời hiệu: sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan; người bị thiệt hại là người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự mà chưa có người đại diện theo quy định của pháp luật hoặc đã có người đại diện nhưng người đại diện đã chết hoặc theo quy định của pháp luật họ không thể tiếp tục là người đại diện cho người bị thiệt hại.
Thứ ba, văn bản xác định hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ, về nội dung này, TTLT thay thế TTLT số 24 đã bổ sung thêm một số văn bản xác định hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ. Bởi trên thực tế có vụ việc đã có văn bản xác định hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ nhưng chưa được TTLT số 24 điều chỉnh: Quyết định thu hồi, sửa đổi, bổ sung, hủy các quyết định trái pháp luật về thi hành án dân sự; Kết luận thanh tra giải quyết vụ việc khiếu nại, tố cáo của cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo quy định của pháp luật về thanh tra; Văn bản của Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền trả lời chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân có thẩm quyền đã ra kháng nghị theo quy định của Luật thi hành án dân sự;
Thứ tư, căn cứ xác định trách nhiệm bồi thường của Nhà nước thì TTLT thay thế TTLT số 24 đã bổ sung thêm nội dung cách thức xác định lỗi trong trường hợp người bị thiệt hại cũng có lỗi, theo đó nếu người bị thiệt hại cũng có một phần lỗi trong việc gây ra thiệt hại thì Nhà nước chỉ bồi thường phần thiệt hại sau khi trừ đi phần thiệt hại tương ứng với phần lỗi của người bị thiệt hại gây ra và được thực hiện theo quy định của Bộ luật Dân sự và các văn bản hướng dẫn thi hành. Quy định trên nhằm tạo hành lang pháp lý để thực hiện trong trường hợp có phát sinh.
Thứ năm, về xác định phạm vi trách nhiệm bồi thường của Nhà nước, TTLT thay thế TTLTsố 24 đã bổ sung, làm rõ thêm một số nội dung về trách nhiệm của Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự, chấp hành viên cụ thể:
Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự cố ý không ra các quyết định sau đây theo quy định của pháp luật: quyết định thu hồi, sửa đổi, bổ sung, hủy quyết định về thi hành án; quyết định thi hành án để thi hành quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời của Toà án trong thời hạn theo quy định của pháp luật; không chủ động ra quyết định hoãn thi hành án khi việc thi hành án được quy định tại Luật Thi hành án dân sự hoặc cố ý không ra quyết định hoãn thi hành án khi nhận được yêu cầu của người có thẩm quyền kháng nghị bản án, quyết định theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm quy định tại Luật Thi hành án dân sự; quyết định tạm đình chỉ thi hành án theo quy định tại Luật Thi hành án dân sự; quyết định đình chỉ thi hành án khi việc thi hành án thuộc các trường hợp được quy định tại Luật Thi hành án dân sự; quyết định tiếp tục thi hành án khi căn cứ, thời hạn hoãn thi hành án theo quy định tại Luật thi hành án dân sự không còn hoặc đã nhận được một trong các quyết định quy định tại Luật thi hành án dân sự.
Thủ trưởng cơ quan thi hành án có hành vi trái pháp luật trong quá trình tổ chức thi hành các quyết định về thi hành án; cố ý không tổ chức thi hành các quyết định về thi hành án theo quy định của pháp luật; ngoài ra, TTLT quy định rõ thêm các trường hợp chấp hành viên ra các quyết định trái pháp luật; cố ý không ra các quyết định.
Việc quy định rõ về trách nhiệm Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự, chấp hành viên để việc áp dụng pháp luật được dễ dàng, thuận lợi. Bên cạnh việc xác định phạm vi trách nhiệm bồi thường TTLT thay thế TTLT số 24 đã bổ sung các trường hợp không thuộc phạm vi trách nhiệm bồi thường.
Thứ sáu, về cơ quan có trách nhiệm bồi thường, so với quy định của TTLT số 24 thì TTLT thay thế có sự phân định, tách bạch về trách nhiệm bồi thường giữa tổ chức bán đấu giá và cơ quan thi hành án dân sự chia ra các trường hợp: trách nhiệm bồi thường hoàn toàn thuộc về cơ quan thi hành án dân sự, trách nhiệm bồi thường hoàn toàn thuộc về tổ chức bán đấu giá, trường hợp cơ quan thi hành án dân sự và tổ chức bán đấu giá tài sản cùng liên đới chịu trách nhiệm bồi thường. Cụ thể, nếu trường hợp cơ quan thi hành án dân sự và tổ chức bán đấu giá cùng gây ra thiệt hại cho người bị thiệt hại trong quá trình bán đấu giá tài sản kê biên thì phải liên đới bồi thường. Cơ quan thi hành án dân sự có trách nhiệm bồi thường toàn bộ thiệt hại xảy ra, sau đó yêu cầu tổ chức bán đấu giá phải thực hiện phần nghĩa vụ liên đới đối với mình theo quy định của Bộ luật Dân sự. Qua đó, nhằm bảo đảm quy định chặt chẽ trách nhiệm, nghĩa vụ liên đới bồi thường của tổ chức bán đấu giá. Trường hợp thiệt hại xảy ra do cơ quan thi hành án dân sự có hành vi trái pháp luật trong việc ký hợp đồng thuê thẩm định giá tài sản; bán đấu giá tài sản; ủy quyền bán đấu giá tài sản thì cơ quan thi hành án dân sự là cơ quan có trách nhiệm bồi thường.
Thứ bảy, về thiệt hại được bồi thường, để tháo gỡ những vướng mắc trong quá trình thực hiện, TTLT thay thế TTLT số 24 thì đã có quy định rõ đối với thiệt hại thực tế và thiệt hại do tài sản bị xâm phạm. Về thiệt hại thực tế bao gồm cả chi phí thực tế người bị thiệt hại đã bỏ ra trong quá trình khiếu nại, tố cáo, tham gia tố tụng để có được văn bản xác định hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ như: chi phí tàu xe, đi lại, ăn ở, in ấn tài liệu, gửi đơn thư trong quá trình khiếu nại, tố cáo, tham gia tố tụng. Theo đó, chi phí tàu xe, đi lại, ăn ở, in ấn tài liệu được áp dụng theo quy định của của Bộ Tài chính về chế độ công tác phí, chế độ chi tổ chức các hội nghị đối với các cơ quan nhà nước và đơn vị sự nghiệp công lập. Về thiệt hại do tài sản bị xâm phạm, TTLT thay thế TTLT số 24 đã có quy định cụ thể rõ mốc thời điểm để xác định hiện trạng tài sản làm căn cứ tính toán mức bồi thường là thời điểm thiệt hại xảy ra. Đồng thời, TTLT cũng quy định rõ về các khoản tiền phải nộp vào ngân sách nhà nước theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền bao gồm các khoản tiền mà người bị thiệt hại đã nộp vào ngân sách nhà nước hoặc các khoản tiền sẽ phải nộp vào ngân sách nhà nước.
Thứ tám, về hồ sơ yêu cầu bồi thường và gửi đơn yêu cầu bồi thường, so TTLT số 24 thì TTLT thay thế TTLT số 24 có bổ sung về hồ sơ: Giấy ủy quyền yêu cầu bồi thường hợp pháp, trong trường hợp người yêu cầu bồi thường là người đại diện theo ủy quyền của người bị thiệt hại; trường hợp người yêu cầu là người thừa kế của người bị thiệt hại. Về hồ sơ yêu cầu bồi thường, giai đoạn nộp đơn yêu cầu bồi thường, trường hợp người bị thiệt hại có tài liệu, chứng cứ kèm theo thì nộp, chưa bắt buộc nộp ngay, chỉ bắt buộc nộp sau khi đơn yêu cầu bồi thường được thụ lý, người bị thiệt hại phải cung cấp các tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu bồi thường của mình kể từ ngày đơn yêu cầu bồi thường được thụ lý cho đến khi kết thúc việc xác minh thiệt hại. Đối với trường hợp người bị thiệt hại chết mà người thừa kế của người bị thiệt hại gửi đơn yêu cầu bồi thường cần có tài liệu chứng minh quyền thừa kế của người yêu cầu bồi thường, văn bản cử người thừa kế, giấy tờ chứng minh thân nhân của người yêu cầu bồi thường. Đồng thời, TTLT thay thế TTLT số 24 cũng đã quy định cụ thể về phương thức gửi đơn yêu cầu bồi thường như trường hợp người bị thiệt hại gửi đơn trực tiếp hoặc gửi qua đường bưu điện nhằm tạo thuận lợi cho công dân.
Thứ chín, về xác minh thiệt hại, phương thức xác minh thiệt hại so với TTLT số 24 thì TTLT thay thế TTLT số 24 đã quy định cụ thể về cách thức xác minh thiệt hại trong một số trường hợp cụ thể: Trong trường hợp người bị thiệt hại có hưởng lương, xác minh thiệt hại là tiền thuê nhà, in ấn tài liệu gửi đơn. Trong trường hợp sau khi thụ lý đơn yêu cầu bồi thường, người bị thiệt hại mới cung cấp tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu bồi thường của mình, thì người bị thiệt hại không có quyền yêu cầu bồi thường khoản tiền lãi phát sinh tính trên số tiền bồi thường thiệt hại thực tế và các khoản thiệt hại khác phát sinh trong thời gian cung cấp các tài liệu, chứng cứ đó. Việc quy định cụ thể những phương thức xác minh thiệt hại nhằm tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc từ thực tiễn triển khai giải quyết bồi thường của cơ quan có trách nhiệm bồi thường.
Thứ mười, về thương lượng bồi thường, so TTLT số 24 thì TTLT thay thế TTLT số 24 đã bổ sung quy định về trường hợp người bị thiệt hại cố ý không ký vào biên bản thương lượng và hậu quả pháp lý của trường hợp này. Đồng này, việc người bị thiệt hại không ký biên bản thương lượng là căn cứ để cơ quan có trách nhiệm bồi thường ra quyết định giải quyết bồi thường. Bởi trên thực tế giải quyết bồi thường tại cơ quan có trách nhiệm bồi thường cũng có trường hợp người bị thiệt hại gây khó dễ cho cơ quan giải quyết bồi thường, dẫn đến việc giải quyết bồi thường gặp khó khăn, thời gian bị kéo dài mà chưa có quy định cụ thể để điều chỉnh, TTLT thay thế TTLT số 24 đã có tháo gỡ vướng mắc trên.
Như vậy, trên cơ sở những hạn chế, bất cập của TTLT số 24, TTLT thay thế TTLT số 24 đã có những quy định mới tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc nhằm tăng cường hiệu quả hoạt động giải quyết bồi thường, bảo đảm tốt hơn quyền được bồi thường của người bị thiệt hại trong hoạt động thi hành án dân sự, đồng thời tạo thuận lợi hơn nữa cho việc yêu cầu bồi thường và giải quyết bồi thường trong hoạt động thi hành án dân sự./.
File đính kèm