MỘT SỐ NỘI DUNG SỬA ĐỔI, BỔ SUNG LỚN TRONG DỰ THẢO LUẬT SỬA ĐỔI, BỔ SUNG MỘT SỐ ĐIỀU CỦA LUẬT TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG CỦA NHÀ NƯỚC TRÌNH QUỐC HỘI
07/07/2026
1. Yêu cầu đặt ra phải sửa đổi, bổ sung Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước
Sau gần 08 năm thi hành Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2017 và các văn bản hướng dẫn thi hành, kết quả triển khai, tổ chức thi hành Luật cho thấy các quy định của Luật cùng tinh thần trách nhiệm và sự toàn diện trong công tác triển khai thi hành Luật thì hoạt động quản lý nhà nước về công tác bồi thường nhà nước, giải quyết yêu cầu bồi thường, xem xét trách nhiệm hoàn trả của người thi hành công vụ ngày càng được thực hiện bài bản, đồng bộ và hiệu quả. Việc ban hành và tổ chức thực hiện Luật TNBTCNN cơ bản đã đạt được mục đích khi ban hành, hoàn thành vai trò, sứ mệnh của mình trong giai đoạn vừa qua, đã góp phần khẳng định trách nhiệm của Nhà nước với Nhân dân, giúp củng cố niềm tin của Nhân dân vào chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước, từ đó góp phần vào quá trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, đáp ứng yêu cầu thực thi Hiến pháp năm 2013 và Nghị quyết số 27-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII ngày 09/11/2022 về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới, cụ thể như sau:
Thứ nhất, đối với công tác giải quyết yêu cầu bồi thường và xem xét trách nhiệm hoàn trả của người thi hành công vụ, về cơ bản các cơ quan giải quyết bồi thường tại nhiều địa phương đã thực hiện nghiêm túc trách nhiệm thụ lý yêu cầu bồi thường, xác minh thiệt hại, thương lượng việc bồi thường và tổ chức thực hiện xem xét trách nhiệm hoàn trả của người thi hành công vụ gây thiệt hại bảo đảm đúng quy định của pháp luật. Qua đó cho thấy, Luật TNBTCNN đã đáp ứng yêu cầu và mục tiêu tạo cơ chế đặc thù, khả thi để người bị thiệt hại thực hiện quyền yêu cầu bồi thường, đồng thời, bảo đảm sự ổn định của hoạt động công vụ, bảo đảm giải quyết hài hòa lợi ích giữa một bên là Nhà nước, cơ quan nhà nước, người thi hành công vụ và một bên là cá nhân, tổ chức, doanh nghiệp bị thiệt hại. Nhiều vụ việc yêu cầu bồi thường theo Luật TNBTCNN đã được giải quyết, bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của người bị thiệt hại, qua đó nâng cao lòng tin của Nhân dân vào Đảng, Nhà nước, góp phần giảm thiểu những vụ việc khiếu nại, khiếu kiện kéo dài, bảo đảm quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân theo Hiến pháp năm 2013.
Thứ hai, hoạt động quản lý nhà nước về công tác bồi thường nhà nước của Bộ Tư pháp, UBND cấp tỉnh và sự phối hợp của các Bộ, ngành trong thực hiện hoạt động quản lý nhà nước được thực hiện thường xuyên, đồng bộ, hiệu quả. Sở Tư pháp tại nhiều địa phương đã phát huy hiệu quả vai trò của mình trong việc tham mưu giúp UBND cấp tỉnh thực hiện các nhiệm vụ quản lý nhà nước về công tác bồi thường. Các hoạt động quản lý nhà nước về công tác bồi thường nhà nước tiếp tục được các địa phương thực hiện nghiêm túc, tích cực, chủ động với phương châm thực hiện các hoạt động nhằm phòng ngừa, hạn chế các sai phạm làm phát sinh TNBTCNN.
Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, một số quy định của Luật Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2017 đã bộc lộ một số vướng mắc, bất cập. Đồng thời, với những chủ trương mới của Đảng về bảo vệ, bảo đảm quyền con người, quyền công dân, đặc biệt là yêu cầu phải thể chế hóa quy định Quy định số 231-QĐ/TW ngày 17/01/2025 của Bộ Chính trị về bảo vệ người đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực về quyền của người đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực “Được bồi thường theo quy định của pháp luật về trách nhiệm bồi thường của Nhà nước khi cơ quan có thẩm quyền không áp dụng biện pháp bảo vệ hoặc áp dụng không kịp thời gây thiệt hại về tính mạng, sức khoẻ, tài sản, tinh thần của người đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực hoặc người thân” (mục 1.3 Điều 5). Bên cạnh đó, với kết quả của việc sắp xếp tổ chức bộ máy nhà nước và tổ chức chính quyền 03 cấp thì một số quy định của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước đã không còn phù hợp.
Do đó, việc sửa đổi, bổ sung Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước là cần thiết. Chính vì vậy, tại Nghị quyết số 105/2025/UBTVQH15 ngày 26/9/2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã đưa Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước vào Chương trình lập pháp năm 2026.
2. Định hướng lớn sửa đổi, bổ sung Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước
Để sửa đổi, bổ sung Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước, cơ quan chủ trì soạn thảo xác định có 03 định hướng lớn như sau:
Một là, thể chế hóa quyền được bồi thường của người đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực khi cơ quan có thẩm quyền không áp dụng hoặc áp dụng không không kịp thời các biện pháp bảo vệ tại Quy định số 231-QĐ/TW ngày 17/01/2025 của Bộ Chính trị về bảo vệ người đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực.
Hai là, sửa đổi, bổ sung các quy định cho phù hợp với chủ trương, chính sách mới của Đảng và Nhà nước, các luật mới ban hành, việc sắp xếp tổ chức bộ máy Nhà nước và việc thực hiện chính quyền địa phương hai cấp, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, cải cách, đơn giản hóa thủ tục hành chính, chuyển đổi số trong lĩnh vực bồi thường nhà nước.
Ba là, sửa đổi, bổ sung các quy định nhằm khắc phục những khó khăn, vướng mắc phát sinh trong tổ chức thực hiện Luật thời gian qua.
3. Những nội dung sửa đổi, bổ sung lớn trong dự thảo Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước trình Quốc hội
Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung lớn trong dự thảo Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước trình Quốc hội (dự thảo Luật) gồm 02 Điều: Điều 1. Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật TNBTCNN năm 2017 (sửa đổi, bổ sung 33 điều, bãi bỏ 02 điều); Điều 2. Điều khoản thi hành.
Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung tập trung vào 06 nhóm nội dung lớn như sau:
3.1. Về nguyên tắc, phạm vi trách nhiệm bồi thường của Nhà nước (khoản 2 Điều 1 và khoản 6 Điều 1 dự thảo Luật)
Dự thảo Luật đã sửa đổi, bổ sung nguyên tắc giải quyết bồi thường quy định tại khoản 1 Điều 4 Luật TNBTCNN theo hướng: “Việc bồi thường của Nhà nước được thực hiện theo quy định của Luật này. Trường hợp có luật khác quy định về phạm vi trách nhiệm bồi thường của Nhà nước thì việc xác định phạm vi trách nhiệm bồi thường của Nhà nước áp dụng theo luật đó.
Theo đó, Luật TNBTCNN là luật chuyên ngành về thủ tục giải quyết bồi thường (nguyên tắc, thời hiệu, trình tự, thủ tục, hồ sơ, thẩm quyền giải quyết bồi thường). Đối với phạm vi trách nhiệm bồi thường của Nhà nước dự thảo Luật quy định theo hướng: (1) Luật TNBTCNN quy định cụ thể trách nhiệm bồi thường của Nhà nước trong trường hợp chưa được quy định tại luật nào hoặc có quy định nhưng dẫn chiếu tới Luật TNBTCNN; (2) Đối với các luật có quy định phạm vi trách nhiệm bồi thường cụ thể thì áp dụng luật đó khi xác định phạm vi trách nhiệm bồi thường theo nguyên tắc áp dụng văn bản QPPL quy định tại Luật Ban hành văn bản QPPL. Việc sửa đổi, bổ sung như vậy sẽ bảo đảm tính ổn định của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước; tạo ra sự linh hoạt và xử lý được xung đột về vấn đề phạm vi TNBTCNN giữa các luật với Luật này và đồng thời tránh được được việc một luật sửa nhiều luật hay nhiều luật sửa một luật.
Trên cơ sở nguyên tắc trên, sửa đổi, bổ sung phạm vi trách nhiệm bồi thường của Nhà nước trong hoạt động quản lý hành chính với 02 nội dung:
Một là, bổ sung trách nhiệm của nhà nước trong việc bồi thường khi cơ quan có thẩm quyền không áp dụng hoặc áp dụng không kịp thời, không đúng các biện pháp để bảo vệ người đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực hoặc người thân (thể chế hóa Quy định 231-QĐ/TW).
Hai là, sửa đổi phạm vi trách nhiệm bồi thường của nhà nước trong việc bảo vệ người tố cáo và trong hoạt động quản lý thuế theo hướng dẫn chiếu để phù hợp với quy định của luật chuyên ngành.
Cụ thể: (1) sửa đổi, bổ sung khoản 6 Điều 17 như sau: “Không áp dụng hoặc áp dụng không kịp thời, không đúng biện pháp bảo vệ khi người tố cáo, người đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực và người thân theo quy định của Luật Tố cáo và pháp luật khác có liên quan”; (2) sửa đổi, bổ sung khoản 9 Điều 17 như sau: “Thực hiện hành vi trái pháp luật trong hoạt động quản lý thuế và các khoản thu khác theo Luật Quản lý thuế”.
2.2. Về cơ quan giải quyết bồi thường
Một là, dự thảo Luật đã sửa đổi khoản 2 và khoản 4 Điều 4 của Luật theo hướng người bị thiệt hại trong hoạt động tố tụng hình sự có quyền yêu cầu cơ quan quản lý người thi hành công vụ giải quyết yêu cầu bồi thường hoặc khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết bồi thường theo thủ tục tố tụng dân sự hoặc kết hợp giải quyết yêu cầu bồi thường trong quá trình tố tụng hình sự, tố tụng hành chính tại Tòa án.
Việc sửa đổi, bổ sung này nhằm bảo đảm sự bình đẳng, công bằng so với các cơ chế giải quyết bồi thường ở lĩnh vực khác (Người bị thiệt hại trong hoạt động quản lý hành chính, tố tụng dân sự, tố tụng hành chính, thi hành án hình sự, thi hành án dân sự bên cạnh việc yêu cầu cơ quan trực tiếp quản lý người thi hành công vụ gây thiệt hại giải quyết bồi thường thì còn có quyền khởi kiện yêu cầu thiệt hại Tòa án giải quyết theo thủ tục tố tụng dân sự theo quy định tại khoản 1 Điều 52 của Luật hoặc yêu cầu giải quyết bồi thường trong quá trình tố tụng hình sự, tố tụng hành chính theo quy định tại Điều 55 của Luật).
Hai là, dự thảo Luật bổ sung vào khoản 6 Điều 33 Luật TNBTCNN quy định:“Cơ quan có thẩm quyền áp dụng biện pháp bảo vệ người tố cáo, người đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực và người thân theo quy định của Luật Tố cáo và pháp luật khác có liên quan” là cơ quan giải quyết bồi thường để phù hợp với việc bổ sung phạm vi trách nhiệm bồi thường của Nhà nước tại khoản 6 Điều 17 dự thảo Luật.
Ba là, dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung quy định tại điểm b khoản 2 Điều 33 như sau: “Cục và tương đương thuộc Bộ, cơ quan ngang Bộ; cơ quan của trung ương được tổ chức theo hệ thống ngành dọc tại địa phương có tư cách pháp nhân là cơ quan giải quyết bồi thường trong trường hợp người thi hành công vụ gây thiệt hại thuộc thẩm quyền quản lý trực tiếp của mình”. Việc sửa đổi này để phù hợp với việc sắp xếp tổ chức bộ máy, nhất là đối với những cơ quan được tổ chức theo ngành dọc từ trung ương xuống địa phương.
2.3. Về thủ tục giải quyết yêu cầu bồi thường (khoản 12, 13, 14, 15 16, 17, 18, 19, 20, 22, 23 và 24 Điều 1 dự thảo Luật)
Thứ nhất, sửa đổi, bổ sung một số quy định tại các Điều 41, 42, 43, 45 và 46 Luật TNBTCNN theo hướng cắt giảm thành phần hồ sơ yêu cầu bồi thường dựa trên dữ liệu[1], cắt giảm thời gian thực hiện thủ tục hành chính (từ 66 ngày xuống còn 31 ngày đối với vụ việc bình thường và từ 88 ngày xuống còn 43 ngày đối với vụ việc phức tạp) đảm bảo phù hợp với chủ trương cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính hiện nay đồng thời ứng dụng công nghệ thông tin trong việc giải quyết yêu cầu bồi thường. Dự thảo Luật cũng giao Chính phủ quy định chi tiết các nội dung về hồ sơ yêu cầu bồi thường, cách thức tiếp nhận hồ sơ yêu cầu bồi thường và việc xử lý hồ sơ, thương lượng việc bồi thường… để bảo đảm tính ổn định của Luật.
Thứ hai, sửa đổi, bổ sung quy định về ra quyết định giải quyết bồi thường theo hướng: quyết định giải quyết bồi thường được ban hành trong mọi trường hợp (kể cả thương lượng thành hay thương lượng không thành), đồng thời quy định thời điểm bắt đầu có hiệu lực của quyết định là sau 60 ngày kể từ ngày người yêu cầu bồi thường nhận được quyết định giải quyết bồi thường và tương ứng với đó là thời hiệu của quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết bồi thường cũng là 60 ngày kể từ ngày nhận được quyết định (theo Luật hiện hành thì thời hạn này là 15 ngày). Đồng thời bổ sung quy định người yêu cầu bồi thường và cơ quan giải quyết bồi thường có quyền thỏa thuận quyết định giải quyết bồi thường có hiệu lực sớm hơn và được ghi rõ trong biên bản thương lượng. Việc sửa đổi các quy định này nhằm thể hiện trách nhiệm đến cùng của cơ quan hành chính (cơ quan trực tiếp quản lý người thi hành công vụ gây thiệt hại) và bảo đảm tốt hơn quyền của người yêu cầu bồi thường.
2.4. Về kinh phí bồi thường (khoản 26, 27 và 28 Điều 1 dự thảo Luật)
Dự thảo Luật đã sửa đổi, bổ sung các Điều 60, Điều 61 và Điều 62 Luật TNBTCNN theo hướng theo hướng cơ quan giải quyết bồi thường ở cấp nào thì ngân sách cấp đó cấp kinh phí; bổ sung quy định về kinh phí cho công tác quản lý nhà nước về công tác bồi thường nhà nước và quy định: (1) Đối với kinh phí cho công tác quản lý nhà nước, hằng năm, căn cứ thực tế kinh phí của năm trước, các cơ quan nhà nước có trách nhiệm lập dự toán kinh phí thực hiện công tác bồi thường gửi cơ quan có thẩm quyền xem xét, quyết định theo quy định của pháp luật về ngân sách nhà nước. (2) Đối với kinh phí chi trả cho người bị thiệt hại và chi phí cho việc định giá tài sản, giám định thiệt hại, cơ quan trực tiếp quản lý người thi hành công vụ gây thiệt hại sử dụng kinh phí thực hiện công tác bồi thường nhà nước đã được giao để chi trả theo quy định tại Điều 62 của Luật này. Đồng thời, dự thảo Luật cũng đã sửa đổi, bổ sung để cải cách, rút ngắn thời hạn thực hiện thủ tục chi trả tiền bồi thường.
2.5. Về trách nhiệm hoàn trả của người thi hành công vụ (khoản 29, 30 và 31 Điều 1 dự thảo Luật
Dự thảo Luật đã bổ sung khoản 4a Điều 65 để quy định việc miễn trách nhiệm hoản trả đối với người thi hành công vụ gây thiệt hại do lỗi vô ý trong một số trường hợp[2] và bổ sung khoản 2a Điều 66 Luật TNBTCNN quy định về trách nhiệm hoàn trả trong trường hợp không xác định được đầy đủ các thông tin về người thi hành công vụ gây thiệt hại.
2.6. Về quản lý nhà nước đối với công tác bồi thường nhà nước (khoản 32 Điều 1 Dự thảo Luật)
Dự thảo Luật đã sửa đổi, bổ sung Điều 73 Luật TNBTCNN theo hướng quy định trách nhiệm quản lý nhà nước về công tác bồi thường nhà nước và quy định một số nhiệm vụ quản lý nhà nước về công tác bồi thường nhà nước thuộc thẩm quyền của Chính phủ, Bộ Tư pháp và Ủy ban nhân dân cấp tỉnh; nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan quản lý nhà nước. Các nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể của từng cơ quan quản lý nhà nước và trách nhiệm phối hợp trong thực hiện quản lý nhà nước của các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ sẽ giao Chính phủ quy định.
Bên cạnh những nội dung sửa đổi, bổ sung lớn như trên, dự thảo Luật cũng sửa đổi, bổ sung khoản 1 Điều 5 Luật Phòng, chống tham nhũng số 36/2018/QH14 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 132/2025/QH15[3] và quy định về chuyển tiếp để đảm bảo việc áp dụng thống nhất khi Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước có hiệu lực thi hành.
Dự kiến dự án Luật sửa đổi, bổ sung Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước sẽ được Quốc hội cho ý kiến và xem xét thông qua tại Kỳ họp không thường lệ tháng 8/2026./.
[1] Theo quy định tại Điều 41 dự thảo Luật thì hồ sơ yêu cầu bồi thường chỉ bao gồm 02 loại giấy tờ, tài liệu (1) Văn bản yêu cầu bồi thường; (2) Văn bản làm căn cứ yêu cầu bồi thường, trừ trường hợp người bị thiệt hại không nhận được văn bản đó.
[2] Thực hiện đề xuất về đổi mới, sáng tạo được cơ quan có thẩm quyền cho phép và được cấp có thẩm quyền xác định đã thực hiện đúng chủ trương, có động cơ trong sáng, vì lợi ích chung hoặc thuộc trường hợp mắc bệnh hiểm nghèo có xác nhận của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh theo quy định của pháp luật hoặc lâm vào hoàn cảnh kinh tế đặc biệt khó khăn kéo dài do thiên tai, hỏa hoạn, tai nạn hoặc lập công lớn được người, cơ quan có thẩm quyền xác nhận.
[3] Sửa đổi, bổ sung như sau: “1. Công dân có quyền phát hiện, phản ánh, tố cáo, tố giác, báo tin về hành vi tham nhũng, được bảo vệ, khen thưởng và được bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật về trách nhiệm bồi thường của Nhà nước; có quyền kiến nghị với cơ quan nhà nước hoàn thiện pháp luật về phòng, chống tham nhũng và giám sát việc thực hiện pháp luật về phòng, chống tham nhũng.”.