PHÁT HUY GIÁ TRỊ DỮ LIỆU ĐĂNG KÝ BIỆN PHÁP BẢO ĐẢM PHỤC VỤ PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG TÍN DỤNG VÀ NỀN KINH TẾ SỐ
09/07/2026
1. Dữ liệu đang trở thành nguồn lực chiến lược của nền kinh tế số
Trong tiến trình chuyển đổi số, dữ liệu không còn chỉ là sản phẩm phụ được hình thành từ hoạt động quản lý, sản xuất, kinh doanh hoặc giao dịch của các chủ thể mà còn trở thành một loại nguồn lực có khả năng trực tiếp tham gia vào quá trình tạo ra sản phẩm, dịch vụ và giá trị mới. Vì vậy, bên cạnh đất đai, vốn, lao động và công nghệ, dữ liệu ngày càng được nhìn nhận như một đầu vào quan trọng của nền kinh tế số, có ảnh hưởng đến năng suất, năng lực đổi mới sáng tạo và sức cạnh tranh của quốc gia.
Giá trị kinh tế đặc thù của dữ liệu trước hết nằm ở khả năng tái sử dụng nhiều lần cho nhiều mục đích mà không bị tiêu hao theo cách của các nguồn lực vật chất. Một tập dữ liệu ban đầu có thể được khai thác để giải quyết thủ tục hành chính, đồng thời được sử dụng để phân tích chính sách, dự báo thị trường, đánh giá rủi ro, phát triển sản phẩm tài chính hoặc huấn luyện các hệ thống trí tuệ nhân tạo. Khi nhiều nguồn dữ liệu được kết nối, đối chiếu và làm giàu cho nhau, giá trị tạo ra có thể lớn hơn đáng kể so với giá trị của từng tập dữ liệu riêng lẻ. Ngân hàng Thế giới nhận định việc sử dụng và tái sử dụng dữ liệu có khả năng tạo ra giá trị kinh tế, xã hội; mở rộng khả năng tiếp cận dữ liệu thông qua các tiêu chuẩn tương tác, dữ liệu mở và cơ chế chia sẻ sẽ làm tăng tiềm năng phát triển của dữ liệu[1].
Đối với khu vực công, dữ liệu là nền tảng để chuyển từ mô hình quản lý dựa chủ yếu trên hồ sơ, báo cáo và xử lý sự vụ sang mô hình quản trị dựa trên dữ liệu. Một Chính phủ số không đơn thuần là Chính phủ đưa các biểu mẫu giấy lên môi trường mạng, mà phải có khả năng khai thác dữ liệu đã có để nhận diện đúng chủ thể, tự động kiểm tra điều kiện, cung cấp dịch vụ công chủ động, hỗ trợ ra quyết định và giám sát việc thực thi chính sách. Dữ liệu vì vậy vừa là “nguyên liệu” để vận hành các nền tảng số, vừa là căn cứ để nâng cao chất lượng dự báo, điều hành và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Chương trình Chuyển đổi số quốc gia đã xác định ba trụ cột là Chính phủ số, kinh tế số và xã hội số; trong đó, việc xây dựng, kết nối và khai thác dữ liệu là điều kiện xuyên suốt để ba trụ cột này có thể vận hành thực chất.
Nhận thức về vai trò chiến lược của dữ liệu được hình thành và phát triển nhất quán trong chủ trương của Đảng. Nghị quyết số 52-NQ/TW ngày 27/9/2019 của Bộ Chính trị về một số chủ trương, chính sách chủ động tham gia cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đã đặt chuyển đổi số quốc gia, phát triển kinh tế số, chính quyền điện tử và tiến tới chính quyền số vào nội dung cốt lõi của chính sách chủ động tham gia cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Tiếp đó, Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng yêu cầu tiếp tục hoàn thiện đồng bộ thể chế, khơi dậy và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực; đồng thời đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia, phát triển kinh tế số trên nền tảng khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Chủ trương này cho thấy chuyển đổi số không phải là một nhiệm vụ kỹ thuật riêng biệt, mà là một bộ phận của đổi mới mô hình tăng trưởng và nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế.
Bước phát triển rõ nét hơn về tư duy chính sách được thể hiện tại Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia. Nghị quyết không chỉ đặt mục tiêu hoàn thành, kết nối và chia sẻ đồng bộ các cơ sở dữ liệu quốc gia, cơ sở dữ liệu của các ngành mà còn yêu cầu khai thác hiệu quả tài nguyên số, dữ liệu số, phát triển Chính phủ số, kinh tế số và xã hội số. Đặc biệt, Nghị quyết đặt ra yêu cầu có cơ chế, chính sách để dữ liệu trở thành nguồn tài nguyên, tư liệu sản xuất quan trọng; xác lập quyền sở hữu, quyền kinh doanh dữ liệu và cơ chế phân phối giá trị được tạo ra từ dữ liệu; phát triển kinh tế dữ liệu, thị trường dữ liệu, sàn giao dịch dữ liệu và ngành công nghiệp dữ liệu. Đây là bước chuyển từ quan niệm dữ liệu chủ yếu phục vụ quản lý sang quan niệm dữ liệu là một nguồn lực phát triển có khả năng được tổ chức, lưu thông và tạo giá trị trong nền kinh tế.
Chủ trương này tiếp tục được thể chế hóa bằng Luật Dữ liệu số 60/2024/QH15, có hiệu lực từ ngày 01/7/2025. Luật điều chỉnh tương đối toàn diện việc xây dựng, phát triển, bảo vệ, quản trị, xử lý và sử dụng dữ liệu số; Trung tâm dữ liệu quốc gia; Cơ sở dữ liệu tổng hợp quốc gia và các sản phẩm, dịch vụ về dữ liệu. Việc ban hành một đạo luật riêng về dữ liệu cho thấy dữ liệu đã trở thành một đối tượng quản trị pháp lý độc lập, có quan hệ trực tiếp với quản trị quốc gia, phát triển thị trường và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân. Từ ngày 01/01/2026, Nghị quyết số 66.7/2025/NQ-CP về cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu tiếp tục khẳng định hướng chuyển đổi từ nền hành chính yêu cầu người dân cung cấp giấy tờ sang nền hành chính chủ động khai thác và sử dụng lại dữ liệu đã có.
Trong bối cảnh đó, dữ liệu đăng ký biện pháp bảo đảm cần được nhìn nhận không chỉ là kết quả kỹ thuật của việc tiếp nhận và giải quyết hồ sơ đăng ký. Mỗi thông tin về chủ thể, tài sản bảo đảm, bên nhận bảo đảm, thời điểm đăng ký và sự thay đổi của giao dịch đều phản ánh một hoạt động tín dụng, đầu tư hoặc sản xuất, kinh doanh cụ thể. Khi được tích lũy, chuẩn hóa và khai thác hợp lý, dữ liệu này có thể góp phần minh bạch hóa tình trạng pháp lý của tài sản, giảm rủi ro giao dịch, hỗ trợ tiếp cận tín dụng và cung cấp căn cứ thực tiễn cho việc hoạch định chính sách. Đây chính là cơ sở để chuyển từ cách tiếp cận “quản lý hồ sơ đăng ký” sang “quản trị và phát huy giá trị của hạ tầng dữ liệu pháp lý”.
2. Dữ liệu đăng ký biện pháp bảo đảm và vai trò đối với phát triển kinh tế số
2.1. Khái quát về dữ liệu đăng ký biện pháp bảo đảm
Đăng ký biện pháp bảo đảm từ lâu được nhìn nhận là một cơ chế pháp lý nhằm công khai hóa quyền đối với tài sản bảo đảm, làm phát sinh hiệu lực đối kháng với người thứ ba và xác lập thứ tự ưu tiên thanh toán khi xử lý tài sản bảo đảm. Theo Điều 297 Bộ luật Dân sự số 91/2015/QH13 ngày 24 tháng 11 năm 2015, biện pháp bảo đảm được đăng ký phát sinh hiệu lực đối kháng với người thứ ba kể từ thời điểm đăng ký; Điều 308 của Bộ luật này tiếp tục xác định thứ tự ưu tiên thanh toán giữa các bên cùng nhận bảo đảm căn cứ vào thời điểm phát sinh hiệu lực đối kháng. Hai quy định này cho thấy đăng ký không phải là thủ tục mang tính hình thức mà là điều kiện để xác lập và bảo đảm hiệu lực của quyền dân sự trong quan hệ với chủ thể khác.
Để cơ chế đối kháng và ưu tiên thanh toán vận hành trên thực tế, thông tin về biện pháp bảo đảm phải được ghi nhận và duy trì trong một hệ thống thống nhất, bảo đảm tính chính xác, khả năng tra cứu và cập nhật. Chính vì vậy, bên cạnh chức năng xác lập hiệu lực pháp lý, hoạt động đăng ký đồng thời tạo lập một nguồn dữ liệu phản ánh tình trạng pháp lý của tài sản bảo đảm. Dữ liệu này không hình thành một cách ngẫu nhiên sau khi hoàn thành thủ tục đăng ký mà được tạo lập ngay từ chính thiết kế của pháp luật về đăng ký biện pháp bảo đảm.
Quan điểm đó được thể hiện khá rõ trong Nghị định số 99/2022/NĐ-CP ngày 30 tháng 11 năm 2022 của Chính phủ về đăng ký biện pháp bảo đảm. Theo quy định tại khoản 1 Điều 3 Nghị định, đăng ký biện pháp bảo đảm là việc cơ quan đăng ký “ghi, cập nhật thông tin về biện pháp bảo đảm vào Sổ đăng ký hoặc Cơ sở dữ liệu về biện pháp bảo đảm”.
Xét dưới góc độ kỹ thuật lập pháp, nội hàm của quy định này có ý nghĩa rộng hơn việc mô tả trình tự giải quyết thủ tục hành chính. Đăng ký được cấu thành bởi hai hành vi pháp lý là ghi và cập nhật thông tin. Nếu việc “ghi” tạo lập bản ghi đầu tiên về biện pháp bảo đảm thì việc “cập nhật” bảo đảm dữ liệu luôn phản ánh đúng trạng thái pháp lý của giao dịch trong suốt thời gian tồn tại của biện pháp bảo đảm. Cách quy định này cho thấy đối tượng được quản lý không chỉ là hồ sơ đăng ký mà còn là chính dòng dữ liệu phát sinh từ hoạt động đăng ký. Nói cách khác, mỗi yêu cầu đăng ký, đăng ký thay đổi, sửa chữa sai sót hoặc xóa đăng ký đều đồng thời làm phát sinh một sự thay đổi trong Cơ sở dữ liệu về biện pháp bảo đảm.
Nhìn từ góc độ quản trị dữ liệu, đây là sự thay đổi đáng chú ý trong tư duy xây dựng pháp luật. Nếu trước đây hoạt động đăng ký chủ yếu được nhìn nhận như một thủ tục nhằm xác lập hiệu lực pháp lý của giao dịch thì Nghị định số 99/2022/NĐ-CP đã mở rộng chức năng của hệ thống đăng ký theo hướng coi dữ liệu là một sản phẩm đầu ra của quá trình đăng ký. Cụ thể tại khoản 4 Điều 3 Nghị định số 99/2022/NĐ-CP, Cơ sở dữ liệu về biện pháp bảo đảm được định nghĩa là “tập hợp dữ liệu được sắp xếp, tổ chức để truy cập, khai thác, quản lý bằng phương tiện điện tử”. Khái niệm này cho thấy cơ quan soạn thảo không xem cơ sở dữ liệu là nơi lưu trữ hồ sơ điện tử, mà là một hệ thống dữ liệu được tổ chức nhằm phục vụ việc truy cập và khai thác thông tin. Việc đặt các chức năng truy cập, khai thác và quản lý ngay trong định nghĩa pháp lý của Cơ sở dữ liệu về biện pháp bảo đảm phản ánh sự dịch chuyển từ tư duy “quản lý hồ sơ” sang tư duy “quản trị dữ liệu”. Điều đó cũng đồng nghĩa với việc giá trị của hệ thống đăng ký không còn chỉ được đo bằng số lượng hồ sơ được tiếp nhận hay giải quyết mà còn bởi khả năng tạo lập, chuẩn hóa và duy trì một nguồn dữ liệu có thể khai thác phục vụ các giao dịch dân sự và hoạt động tín dụng.
Cách thiết kế này phù hợp với định hướng chung của pháp luật Việt Nam về dữ liệu trong giai đoạn hiện nay. Luật Dữ liệu số 60/2024/QH15 ngày 30/11/2024 xác định dữ liệu là nguồn tài nguyên quan trọng, cần được quản trị, kết nối, chia sẻ và khai thác để phục vụ phát triển kinh tế - xã hội. Mặc dù Luật Dữ liệu điều chỉnh ở phạm vi rộng hơn và không quy định riêng đối với dữ liệu đăng ký biện pháp bảo đảm, nhưng cách tiếp cận coi dữ liệu là một nguồn lực có khả năng tạo ra giá trị đã tạo cơ sở chính sách để nhìn nhận lại vai trò của Cơ sở dữ liệu về biện pháp bảo đảm. Từ góc độ này, hệ thống đăng ký không chỉ thực hiện chức năng công khai hóa quyền mà còn hình thành một hạ tầng dữ liệu pháp lý chuyên ngành, nơi dữ liệu được tạo lập, chuẩn hóa và duy trì theo một quy trình thống nhất, bảo đảm độ tin cậy để phục vụ các hoạt động giao dịch và quản lý.
Thực tiễn hoạt động tín dụng cho thấy giá trị của cơ chế này không chỉ nằm ở việc bảo đảm hiệu lực pháp lý của giao dịch mà còn ở khả năng cung cấp thông tin kịp thời cho các chủ thể trên thị trường. Chẳng hạn, trước khi quyết định nhận tài sản để bảo đảm cho khoản vay, tổ chức tín dụng thường thực hiện tra cứu thông tin đăng ký nhằm xác định tài sản đã được sử dụng để bảo đảm nghĩa vụ khác hay chưa, biện pháp bảo đảm còn hiệu lực hay đã được xóa đăng ký, cũng như thời điểm phát sinh hiệu lực đối kháng để đánh giá thứ tự ưu tiên thanh toán nếu phát sinh xử lý tài sản. Trường hợp doanh nghiệp thay đổi bên nhận bảo đảm do chuyển giao khoản nợ hoặc bổ sung tài sản bảo đảm trong quá trình thực hiện hợp đồng tín dụng, các thông tin này tiếp tục được cập nhật vào Cơ sở dữ liệu, bảo đảm tình trạng pháp lý của tài sản luôn được phản ánh kịp thời và chính xác. Đây cũng là nhu cầu được nhiều tổ chức tín dụng như BIDV, Vietcombank và Techcombank phản ánh trong quá trình góp ý hoàn thiện pháp luật về đăng ký biện pháp bảo đảm[2], đặc biệt đối với yêu cầu nâng cao chất lượng dữ liệu, mở rộng khả năng kết nối và rút ngắn thời gian cung cấp thông tin.
Đặc điểm này tạo nên sự khác biệt giữa Cơ sở dữ liệu về biện pháp bảo đảm với nhiều cơ sở dữ liệu hành chính khác. Nếu phần lớn cơ sở dữ liệu hành chính được xây dựng nhằm phục vụ quản lý nhà nước trong một lĩnh vực cụ thể thì Cơ sở dữ liệu về biện pháp bảo đảm đồng thời đáp ứng hai chức năng: bảo đảm hiệu lực của chế định đăng ký theo quy định của Bộ luật Dân sự và cung cấp thông tin phục vụ các giao dịch trên thị trường. Nói cách khác, đây là một cơ sở dữ liệu được hình thành từ hoạt động thực thi pháp luật nhưng giá trị khai thác không giới hạn trong phạm vi quản lý hành chính mà còn trực tiếp phục vụ hoạt động tín dụng, đầu tư và kinh doanh.
Cách tiếp cận nêu trên cũng phù hợp với xu hướng phát triển của pháp luật quốc tế về giao dịch bảo đảm. UNCITRAL trong Legislative Guide on Secured Transactions coi hệ thống đăng ký là một cơ chế công khai thông tin (notice-based registry), trong đó chức năng quan trọng nhất không phải là xác nhận tính hợp pháp của giao dịch mà là tạo lập một nguồn thông tin đáng tin cậy để các chủ thể có thể xác định sự tồn tại của quyền bảo đảm và đánh giá rủi ro trước khi tham gia giao dịch. Cách tiếp cận này được nhiều quốc gia như Canada, New Zealand hay Australia vận dụng thông qua các hệ thống đăng ký tài sản bảo đảm điện tử (Personal Property Securities Register - PPSR), nơi dữ liệu đăng ký được khai thác thường xuyên bởi các tổ chức tín dụng, doanh nghiệp và nhà đầu tư nhằm giảm bất cân xứng thông tin và nâng cao tính an toàn của thị trường tín dụng.
Từ những phân tích nêu trên, có thể thấy nguồn dữ liệu này mang ít nhất ba đặc trưng cơ bản.
Thứ nhất, đây là dữ liệu pháp lý (legal data). Giá trị của dữ liệu không chỉ bắt nguồn từ nội dung thông tin được ghi nhận mà còn từ việc thông tin đó được tạo lập theo trình tự, thủ tục do pháp luật quy định và được cơ quan có thẩm quyền xác nhận thông qua hoạt động đăng ký. Chính cơ sở pháp lý này tạo nên sự khác biệt giữa dữ liệu đăng ký biện pháp bảo đảm với các nguồn dữ liệu do doanh nghiệp hoặc cá nhân tự thu thập trong quá trình hoạt động.
Thứ hai, đây là dữ liệu có độ tin cậy cao. Thông tin được ghi nhận trong Cơ sở dữ liệu về biện pháp bảo đảm phải trải qua quá trình tiếp nhận, kiểm tra và xử lý theo quy định của Nghị định số 99/2022/NĐ-CP trước khi được cập nhật và cung cấp cho tổ chức, cá nhân có nhu cầu. Mặc dù không phải mọi thông tin trong cơ sở dữ liệu đều phản ánh tính hợp pháp của giao dịch dân sự, nhưng việc dữ liệu được quản lý trong một hệ thống đăng ký thống nhất giúp nâng cao đáng kể khả năng xác minh, đối chiếu và sử dụng thông tin trong thực tiễn.
Thứ ba, đây là dữ liệu có khả năng khai thác và tái sử dụng. Giá trị của dữ liệu không chấm dứt sau khi hoàn thành thủ tục đăng ký mà tiếp tục được phát huy thông qua hoạt động cung cấp thông tin cho các chủ thể có quyền theo quy định của pháp luật. Trên phương diện kinh tế, cùng một bản ghi dữ liệu có thể được khai thác nhiều lần cho các mục đích khác nhau như thẩm định tín dụng, quản trị rủi ro, kiểm tra tình trạng pháp lý của tài sản, giải quyết tranh chấp hoặc xây dựng chính sách. Chính khả năng tái sử dụng này làm gia tăng giá trị của dữ liệu theo thời gian, thay vì bị tiêu hao sau mỗi lần sử dụng như các nguồn lực vật chất truyền thống.
Như vậy, dữ liệu đăng ký biện pháp bảo đảm là kết quả của một cơ chế pháp lý được thiết kế nhằm ghi nhận, chuẩn hóa, quản lý và cung cấp thông tin về tình trạng pháp lý của biện pháp bảo đảm. Trong bối cảnh chuyển đổi số và phát triển kinh tế số, giá trị của hệ thống đăng ký không còn chỉ được đánh giá thông qua số lượng hồ sơ đăng ký hay thời gian giải quyết thủ tục hành chính, mà còn ở khả năng tạo lập một nguồn dữ liệu pháp lý có chất lượng, độ tin cậy và khả năng khai thác cao. Chính đặc tính này tạo nên mối liên hệ trực tiếp giữa dữ liệu đăng ký biện pháp bảo đảm với sự phát triển của thị trường tín dụng và nền kinh tế số, nội dung sẽ được phân tích ở mục tiếp theo.
2.2. Giá trị của dữ liệu đăng ký biện pháp bảo đảm đối với phát triển nền kinh tế số
Từ góc độ kinh tế học, dữ liệu đăng ký biện pháp bảo đảm tạo ra giá trị trước hết thông qua việc giảm bất cân xứng thông tin giữa các chủ thể tham gia giao dịch. Một trong những nguyên nhân làm gia tăng chi phí giao dịch trên thị trường tín dụng là bên nhận bảo đảm thường không có đầy đủ thông tin về tình trạng pháp lý của tài sản dự kiến nhận bảo đảm. Khi khả năng tiếp cận thông tin bị hạn chế, tổ chức tín dụng buộc phải dành nhiều thời gian và chi phí để xác minh, đồng thời phải dự phòng rủi ro cao hơn trong quá trình cấp tín dụng. Cơ sở dữ liệu về biện pháp bảo đảm được thiết kế nhằm khắc phục chính khoảng trống thông tin này bằng việc cung cấp thông tin về tình trạng đăng ký, thời điểm phát sinh hiệu lực đối kháng và các thay đổi liên quan đến biện pháp bảo đảm theo khuôn khổ pháp luật.
Trên thực tế, hoạt động tra cứu thông tin đăng ký đã trở thành một bước nghiệp vụ quen thuộc trong quy trình thẩm định tín dụng của các tổ chức tín dụng. Trước khi quyết định nhận tài sản để bảo đảm cho khoản vay, ngân hàng thường kiểm tra tình trạng đăng ký nhằm xác định tài sản đã được sử dụng để bảo đảm cho nghĩa vụ khác hay chưa, có phát sinh thay đổi về bên nhận bảo đảm hoặc đã thực hiện xóa đăng ký hay chưa. Những thông tin này không thay thế hoạt động thẩm định tài sản nhưng góp phần giảm đáng kể rủi ro pháp lý và chi phí xác minh thông tin.
Ở phạm vi rộng hơn, giá trị của dữ liệu đăng ký biện pháp bảo đảm không dừng lại ở từng giao dịch riêng lẻ mà còn tác động đến hiệu quả phân bổ nguồn lực của thị trường tín dụng. Khi thông tin về tình trạng pháp lý của tài sản được công khai và có thể tra cứu theo cơ chế pháp luật quy định, tổ chức tín dụng có cơ sở đánh giá rủi ro chính xác hơn, từ đó mở rộng khả năng chấp nhận các loại tài sản bảo đảm và nâng cao khả năng tiếp cận tín dụng của doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp nhỏ và vừa. Theo UNCITRAL, một hệ thống đăng ký giao dịch bảo đảm hiệu quả là một trong những điều kiện quan trọng để mở rộng tín dụng có bảo đảm, giảm chi phí vốn và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế thông qua việc khai thông khả năng huy động vốn từ tài sản.
Từ góc độ quản trị nhà nước, dữ liệu đăng ký biện pháp bảo đảm còn tạo lập một nguồn thông tin có giá trị phục vụ xây dựng và hoàn thiện chính sách. Khi được tổng hợp và phân tích, dữ liệu có thể phản ánh xu hướng sử dụng các loại tài sản bảo đảm, cơ cấu tín dụng theo từng nhóm tài sản, mức độ lưu chuyển của tài sản bảo đảm hoặc sự thay đổi trong nhu cầu tiếp cận vốn của doanh nghiệp và người dân. Những thông tin này không chỉ hỗ trợ cơ quan quản lý đánh giá sự vận động của thị trường tín dụng mà còn tạo cơ sở thực chứng cho việc hoàn thiện chính sách pháp luật về giao dịch bảo đảm, đăng ký tài sản và phát triển thị trường vốn.
Ý nghĩa của dữ liệu đăng ký biện pháp bảo đảm càng trở nên rõ nét trong bối cảnh Việt Nam đang triển khai các chủ trương lớn về chuyển đổi số và phát triển hạ tầng dữ liệu quốc gia. Trong bối cảnh đó, Cơ sở dữ liệu về biện pháp bảo đảm không còn được nhìn nhận đơn thuần là công cụ phục vụ hoạt động đăng ký mà cần được xem là một cấu phần của hạ tầng dữ liệu pháp lý quốc gia, có khả năng kết nối với cơ sở dữ liệu về đất đai, đăng ký doanh nghiệp, dân cư và các cơ sở dữ liệu chuyên ngành khác nhằm tạo lập hệ sinh thái dữ liệu phục vụ phát triển kinh tế số.
Mối quan hệ giữa dữ liệu đăng ký biện pháp bảo đảm và nền kinh tế số không chỉ được thể hiện ở việc ứng dụng công nghệ trong hoạt động đăng ký. Giá trị cốt lõi của nguồn dữ liệu này nằm ở khả năng làm giảm bất cân xứng thông tin, giảm chi phí giao dịch, nâng cao hiệu quả phân bổ vốn và tạo lập niềm tin cho các giao dịch trên thị trường. Nói cách khác, nếu hoạt động đăng ký tạo ra giá trị pháp lý cho biện pháp bảo đảm thì dữ liệu được hình thành từ hoạt động đăng ký lại tạo ra giá trị kinh tế thông qua việc thúc đẩy dòng chảy thông tin, dòng chảy vốn và hiệu quả vận hành của thị trường. Đây cũng chính là cơ sở để xem xét việc tiếp tục hoàn thiện cơ chế quản trị, kết nối và khai thác Cơ sở dữ liệu về biện pháp bảo đảm trong giai đoạn hiện nay.
3. Hoàn thiện cơ chế quản trị và khai thác dữ liệu đăng ký biện pháp bảo đảm phục vụ phát triển kinh tế số
3.1. Khái quát thực trạng khai thác dữ liệu đăng ký biện pháp bảo đảm
Những phân tích ở phần trên cho thấy dữ liệu đăng ký biện pháp bảo đảm không chỉ là kết quả của hoạt động đăng ký mà còn là một nguồn dữ liệu pháp lý có giá trị đối với thị trường tín dụng và nền kinh tế số. Tuy nhiên, giá trị đó chưa được phát huy tương xứng với tiềm năng của hệ thống dữ liệu đã được hình thành. Vấn đề hiện nay không nằm ở việc thiếu dữ liệu, mà ở chỗ cơ chế quản trị, kết nối và khai thác dữ liệu vẫn chủ yếu được thiết kế để phục vụ hoạt động đăng ký, chưa chuyển mạnh sang khai thác dữ liệu như một nguồn lực phát triển.
Sau hơn hai thập kỷ xây dựng và vận hành, đặc biệt từ khi Hệ thống đăng ký trực tuyến về biện pháp bảo đảm được triển khai thống nhất trên phạm vi toàn quốc, hoạt động đăng ký đã từng bước chuyển từ phương thức xử lý hồ sơ giấy sang môi trường điện tử. Thông qua việc tiếp nhận, xử lý, cập nhật và cung cấp thông tin bằng phương thức trực tuyến, hệ thống đã hình thành một nguồn dữ liệu pháp lý có quy mô lớn, được bổ sung và cập nhật thường xuyên. Trong 05 tháng đầu năm 2026 (từ ngày 01/01/2026 đến ngày 31/5/2026), Cục Đăng ký giao dịch bảo đảm và Bồi thường nhà nước, Bộ Tư pháp đã tiếp nhận và giải quyết 438.317 hồ sơ, trong đó có 428.740 phiếu yêu cầu đăng ký biện pháp bảo đảm, hợp đồng, 4.886 phiếu yêu cầu cấp bản sao văn bản chứng nhận đăng ký, 4.599 phiếu yêu cầu cung cấp thông tin về biện pháp bảo đảm và 92 phiếu yêu cầu đăng ký thông báo xử lý tài sản bảo đảm. Đáng chú ý, 94,8% hồ sơ được thực hiện theo phương thức trực tuyến, tăng 5,6 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm 2025; 100% hồ sơ được giải quyết đúng thời hạn.
Nếu nhìn từ góc độ quản trị dữ liệu, nguồn dữ liệu này vẫn chủ yếu được khai thác theo từng yêu cầu cung cấp thông tin riêng lẻ, phục vụ trực tiếp việc xác lập hoặc kiểm tra tình trạng pháp lý của giao dịch. Giá trị của dữ liệu đối với hoạt động phân tích, quản trị rủi ro, hoạch định chính sách hoặc hỗ trợ ra quyết định trên quy mô lớn vẫn chưa được phát huy đầy đủ. Khoảng cách giữa “số hóa hoạt động đăng ký” và “khai thác dữ liệu đăng ký” vì vậy vẫn còn khá lớn.
Kinh nghiệm quốc tế cho thấy nhiều quốc gia đã chuyển từ tư duy xây dựng hệ thống đăng ký sang phát triển hạ tầng dữ liệu phục vụ thị trường tín dụng. New Zealand vận hành Personal Property Securities Register (PPSR) như một cơ sở dữ liệu điện tử tập trung, cho phép tổ chức tín dụng, doanh nghiệp và cá nhân tra cứu trực tuyến thông tin về quyền bảo đảm trước khi xác lập giao dịch. Australia xây dựng PPSR trên phạm vi toàn quốc với mục tiêu tích hợp dữ liệu về quyền đối với động sản, góp phần giảm bất cân xứng thông tin và nâng cao hiệu quả quản trị rủi ro tín dụng. Tại Canada, các hệ thống Personal Property Registry (PPR) ở cấp tỉnh được thiết kế không chỉ để công khai hóa quyền mà còn phục vụ việc chia sẻ và khai thác dữ liệu trong hoạt động cấp tín dụng và thương mại. Điểm chung của các mô hình này là coi dữ liệu đăng ký là một bộ phận của hạ tầng thông tin thị trường, được khai thác thường xuyên bởi các tổ chức tín dụng, doanh nghiệp và nhà đầu tư, thay vì chỉ phục vụ việc xác lập hiệu lực đối kháng của giao dịch. Quan điểm này cũng phù hợp với UNCITRAL Legislative Guide on Secured Transactions, trong đó hệ thống đăng ký được xem là một notice-based registry, có chức năng cốt lõi là giảm bất cân xứng thông tin và tăng tính minh bạch của thị trường tín dụng.
So với kinh nghiệm quốc tế, Cơ sở dữ liệu về biện pháp bảo đảm ở Việt Nam đã đạt được bước tiến đáng kể về số hóa quy trình đăng ký nhưng khả năng liên thông và khai thác dữ liệu vẫn còn khiêm tốn. Việc kết nối với các cơ sở dữ liệu quốc gia và cơ sở dữ liệu chuyên ngành như đất đai, đăng ký doanh nghiệp, dân cư, đăng ký phương tiện hoặc thi hành án chưa được thực hiện đồng bộ. Điều này khiến tổ chức tín dụng vẫn phải thực hiện nhiều bước xác minh độc lập trong quá trình thẩm định tài sản bảo đảm, làm gia tăng chi phí giao dịch và kéo dài thời gian cấp tín dụng. Trong khi đó, OECD cho rằng giá trị kinh tế của dữ liệu được tạo ra chủ yếu thông qua khả năng kết nối, chia sẻ và tái sử dụng; một hệ thống dữ liệu vận hành biệt lập sẽ khó phát huy hết giá trị đối với nền kinh tế số.
Nhiều ngân hàng và tổ chức tín dụng trong quá trình tham vấn chính sách đã kiến nghị tiếp tục hoàn thiện cơ chế kết nối, chia sẻ dữ liệu giữa Hệ thống đăng ký với các cơ sở dữ liệu chuyên ngành; chuẩn hóa thông tin đăng ký; mở rộng khả năng đăng ký, cung cấp và khai thác thông tin bằng phương thức điện tử; đồng thời đơn giản hóa quy trình khai thác dữ liệu nhằm nâng cao hiệu quả thẩm định tín dụng, quản trị rủi ro và xử lý tài sản bảo đảm[3]. Những kiến nghị này cho thấy nhu cầu của thị trường hiện nay không chỉ dừng ở việc số hóa quy trình đăng ký mà đã chuyển sang yêu cầu phát triển một hệ sinh thái dữ liệu có khả năng hỗ trợ ra quyết định, quản trị rủi ro và nâng cao hiệu quả vận hành của thị trường tín dụng.
3.2. Định hướng phát triển Cơ sở dữ liệu về biện pháp bảo đảm thành hạ tầng dữ liệu pháp lý phục vụ nền kinh tế số
Sự phát triển của kinh tế số đang làm thay đổi căn bản cách tiếp cận đối với dữ liệu trong quản trị công. Nếu trước đây các cơ sở dữ liệu chuyên ngành chủ yếu được xây dựng nhằm phục vụ hoạt động quản lý của từng cơ quan nhà nước thì hiện nay, dữ liệu ngày càng được nhìn nhận là một loại hạ tầng thiết yếu của nền kinh tế số, có khả năng tạo ra giá trị thông qua việc kết nối, chia sẻ và tái sử dụng giữa nhiều chủ thể. Theo đó, giá trị của Cơ sở dữ liệu về biện pháp bảo đảm không chỉ được đo bằng số lượng hồ sơ đăng ký hay khả năng cung cấp thông tin theo từng yêu cầu, mà còn được quyết định bởi mức độ tham gia của cơ sở dữ liệu này vào hạ tầng dữ liệu quốc gia và khả năng hỗ trợ thị trường tín dụng, quản trị rủi ro và đổi mới sáng tạo.
Cách tiếp cận này cũng phù hợp với xu hướng quản trị dữ liệu hiện đại được Ngân hàng Thế giới, OECD và Liên minh châu Âu khuyến nghị, theo đó dữ liệu công cần được phát triển như một hạ tầng dữ liệu (data infrastructure) và được quản trị theo mô hình hệ sinh thái dữ liệu (data ecosystem) thay vì tồn tại dưới dạng các cơ sở dữ liệu chuyên ngành hoạt động độc lập. Trên cơ sở đó, việc hoàn thiện Cơ sở dữ liệu về biện pháp bảo đảm ở Việt Nam cần được đặt trong một khung tiếp cận mới: từ một hệ thống phục vụ đăng ký và cung cấp thông tin chuyển thành hạ tầng dữ liệu pháp lý có khả năng kết nối, tái sử dụng và phát triển các dịch vụ dữ liệu phục vụ nền kinh tế số.
Trên cơ sở đó, tác giả đề xuất một số định hướng phát triển Cơ sở dữ liệu về biện pháp bảo đảm thành hạ tầng dữ liệu pháp lý phục vụ nền kinh tế số như sau:
3.2.1. Tái định vị Cơ sở dữ liệu về biện pháp bảo đảm trong hạ tầng dữ liệu quốc gia
Một trong những xu hướng nổi bật của quản trị dữ liệu hiện đại là chuyển từ mô hình xây dựng các cơ sở dữ liệu chuyên ngành hoạt động độc lập sang mô hình hệ sinh thái dữ liệu quốc gia. Theo Ngân hàng Thế giới, giai đoạn tiếp theo của chuyển đổi số không phải là tiếp tục hình thành thêm các cơ sở dữ liệu mới mà là thiết lập khả năng kết nối, chia sẻ và tương tác giữa các cơ sở dữ liệu đã có thông qua các tiêu chuẩn chung về quản trị, công nghệ và pháp lý. Giá trị của dữ liệu vì vậy không còn phụ thuộc vào số lượng dữ liệu được thu thập mà phụ thuộc vào khả năng dữ liệu được khai thác trong nhiều bối cảnh khác nhau để tạo ra giá trị mới.
Xu hướng này đã được nhiều quốc gia thể chế hóa. Singapore xây dựng Kiến trúc dữ liệu Chính phủ (Government Data Architecture) trên nguyên tắc dữ liệu vẫn do từng cơ quan quản lý nhưng được kết nối thông qua kiến trúc dữ liệu thống nhất. Tương tự, Australia thiết lập thỏa thuận chia sẻ, kết nối dữ liệu
Data Sharing Agreement và nền tảng Dataplace để điều phối việc chia sẻ dữ liệu giữa các cơ quan công quyền. Điểm chung của các mô hình này là không tập trung dữ liệu về một đầu mối duy nhất mà xây dựng cơ chế liên thông, trong đó mỗi cơ quan tiếp tục chịu trách nhiệm đối với dữ liệu thuộc phạm vi quản lý của mình.
Đối với Việt Nam, Luật Dữ liệu năm 2024 cùng chủ trương xây dựng Trung tâm dữ liệu quốc gia đã tạo tiền đề để chuyển từ mô hình quản lý dữ liệu phân tán sang hạ tầng dữ liệu thống nhất. Trong bối cảnh đó, Cơ sở dữ liệu về biện pháp bảo đảm cần được nhìn nhận không chỉ là công cụ phục vụ hoạt động đăng ký mà còn là một hợp phần của hạ tầng dữ liệu quốc gia. Việc kết nối với Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, Cơ sở dữ liệu đất đai, Cơ sở dữ liệu đăng ký doanh nghiệp và các cơ sở dữ liệu chuyên ngành khác sẽ góp phần nâng cao chất lượng thông tin, giảm chi phí xác minh và tăng hiệu quả quản lý nhà nước cũng như hoạt động cấp tín dụng. Vì vậy, định hướng hoàn thiện pháp luật trong thời gian tới cần tập trung vào việc bảo đảm khả năng liên thông giữa Cơ sở dữ liệu về biện pháp bảo đảm với hạ tầng dữ liệu quốc gia, đồng thời vẫn duy trì nguyên tắc mỗi cơ quan chịu trách nhiệm quản trị và bảo đảm giá trị pháp lý của dữ liệu thuộc phạm vi quản lý của mình.
3.2.2. Chuyển từ cơ chế cung cấp thông tin sang cơ chế tái sử dụng dữ liệu có kiểm soát
Nếu việc kết nối dữ liệu quyết định phạm vi khai thác thì cơ chế tái sử dụng dữ liệu quyết định khả năng tạo ra giá trị từ dữ liệu. OECD cho rằng dữ liệu là một nguồn lực đặc biệt vì có thể được nhiều chủ thể sử dụng đồng thời mà không làm mất đi giá trị vốn có. Do đó, trọng tâm của quản trị dữ liệu không còn là kiểm soát tuyệt đối việc tiếp cận dữ liệu mà là thiết lập cơ chế để dữ liệu được tái sử dụng an toàn, đúng mục đích và có trách nhiệm.
Đạo luật Quản trị dữ liệu của Liên minh châu Âu (Data Governance Act) thể hiện rõ tư duy này khi thiết lập cơ chế tái sử dụng đối với dữ liệu khu vực công được bảo vệ. Thay vì công khai toàn bộ dữ liệu, pháp luật châu Âu cho phép khai thác dữ liệu trong những điều kiện nhất định, đồng thời áp dụng các biện pháp như ẩn danh hóa, kiểm soát mục đích sử dụng và cơ chế trung gian dữ liệu nhằm bảo đảm cân bằng giữa khai thác dữ liệu và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các chủ thể liên quan. Australia cũng lựa chọn cách tiếp cận tương tự khi xây dựng cơ chế chia sẻ dữ liệu dựa trên nguyên tắc quản trị rủi ro và trách nhiệm giải trình.
So với các mô hình này, việc khai thác Cơ sở dữ liệu về biện pháp bảo đảm ở Việt Nam hiện vẫn chủ yếu được thực hiện thông qua cơ chế cung cấp thông tin theo từng yêu cầu. Mô hình này đáp ứng tốt mục tiêu bảo đảm an toàn pháp lý của giao dịch nhưng chưa khai thác hết giá trị của dữ liệu phục vụ quản trị rủi ro, nghiên cứu, thống kê hay hoạch định chính sách. Trong bối cảnh Luật Dữ liệu năm 2024 đã xác lập nguyên tắc chia sẻ và khai thác dữ liệu phục vụ phát triển kinh tế - xã hội, pháp luật về đăng ký biện pháp bảo đảm cần từng bước tiếp cận theo hướng thiết lập cơ chế tái sử dụng dữ liệu có kiểm soát. Theo đó, việc khai thác dữ liệu cần được phân tầng theo mục đích sử dụng và nhóm chủ thể, đồng thời gắn với các yêu cầu về bảo mật, bảo vệ dữ liệu cá nhân, an toàn thông tin và trách nhiệm giải trình. Đây là điều kiện để mở rộng giá trị sử dụng của dữ liệu mà vẫn bảo đảm tính an toàn và độ tin cậy của hệ thống đăng ký.
3.2.3. Hướng tới hình thành hệ sinh thái dịch vụ dữ liệu trên nền tảng Cơ sở dữ liệu về biện pháp bảo đảm
Kinh nghiệm quốc tế cho thấy giá trị lớn nhất của dữ liệu công không nằm ở bản thân dữ liệu mà ở các sản phẩm, dịch vụ được phát triển trên nền tảng dữ liệu đó. OECD và Ngân hàng Thế giới đều cho rằng vai trò của Nhà nước không phải là trực tiếp thương mại hóa dữ liệu công, mà là xây dựng môi trường pháp lý và hạ tầng kỹ thuật để khu vực tư nhân có thể đổi mới sáng tạo trên cơ sở khai thác dữ liệu hợp pháp. Theo cách tiếp cận này, dữ liệu công là một loại hạ tầng, còn giá trị gia tăng được tạo ra thông qua các dịch vụ dữ liệu do nhiều chủ thể cùng phát triển.
Đối với Cơ sở dữ liệu về biện pháp bảo đảm, khi khả năng kết nối và tái sử dụng dữ liệu được mở rộng, việc hình thành các dịch vụ dữ liệu sẽ là bước phát triển tất yếu. Những dịch vụ này không chỉ phục vụ hoạt động đăng ký mà còn có thể hỗ trợ các tổ chức tín dụng trong thẩm định tài sản bảo đảm, quản trị rủi ro, theo dõi biến động pháp lý của tài sản; hỗ trợ cơ quan quản lý trong phân tích thị trường tín dụng và xây dựng chính sách; đồng thời tạo nguồn dữ liệu đầu vào cho các hoạt động nghiên cứu và đổi mới sáng tạo. Như vậy, giá trị của Cơ sở dữ liệu sẽ không còn được đo bằng số lượng hồ sơ đăng ký hay số lượt cung cấp thông tin mà bằng khả năng tạo lập các giá trị kinh tế và xã hội mới từ chính nguồn dữ liệu đã được hình thành trong quá trình đăng ký.
Từ góc độ đó, định hướng hoàn thiện pháp luật trong thời gian tới không nên chỉ tập trung vào việc hoàn thiện thủ tục đăng ký hoặc mở rộng phương thức cung cấp thông tin, mà cần đặt Cơ sở dữ liệu về biện pháp bảo đảm trong tổng thể chiến lược phát triển hạ tầng dữ liệu quốc gia và nền kinh tế dữ liệu. Đây không chỉ là yêu cầu của quá trình chuyển đổi số trong lĩnh vực tư pháp mà còn là điều kiện để phát huy đầy đủ giá trị của nguồn dữ liệu đăng ký biện pháp bảo đảm như một loại tài nguyên số phục vụ phát triển thị trường tín dụng, nâng cao hiệu quả quản trị nhà nước và thúc đẩy phát triển kinh tế số.
Kết luận
Phát huy giá trị dữ liệu đăng ký biện pháp bảo đảm là một quá trình tổng thể, bao gồm chuẩn hóa cấu trúc dữ liệu, làm sạch và kiểm soát chất lượng, kết nối với các cơ sở dữ liệu liên quan, tổ chức chia sẻ theo từng cấp độ và ứng dụng dữ liệu vào hoạt động quản lý cũng như phát triển thị trường. Các nhiệm vụ này có quan hệ chặt chẽ với nhau: dữ liệu chưa được chuẩn hóa thì khó kết nối; dữ liệu thiếu chính xác thì không thể khai thác tin cậy; dữ liệu được kết nối nhưng thiếu cơ chế chia sẻ thì chưa tạo ra giá trị; còn dữ liệu được chia sẻ nhưng không được bảo vệ phù hợp có thể làm phát sinh những rủi ro pháp lý và xã hội mới.
Vì vậy, định hướng dài hạn không chỉ là xây dựng một hệ thống đăng ký hiện đại hơn, mà là hình thành cơ chế quản trị dữ liệu đăng ký biện pháp bảo đảm thống nhất, an toàn và có khả năng tạo giá trị. Khi được quản trị và khai thác phù hợp, nguồn dữ liệu này sẽ góp phần nâng cao tính minh bạch của tài sản, giảm chi phí giao dịch, hỗ trợ mở rộng tín dụng có bảo đảm và cung cấp bằng chứng thực tiễn cho hoạt động quản lý, hoạch định chính sách. Qua đó, dữ liệu đăng ký biện pháp bảo đảm có thể trở thành một cấu phần quan trọng của hạ tầng thông tin phục vụ phát triển thị trường và nền kinh tế số./.
Nguyễn Anh Vũ
[1] World Bank, World Development Report 2021: Data for Better Lives (Washington, DC: World Bank, 2021), Main Messages; xem thêm Chương 4 Creative Reuses of Data for Greater Value.
[2] Tham luận của Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV), Góp ý dự thảo Nghị định thay thế Nghị định số 99/2022/NĐ-CP về đăng ký biện pháp bảo đảm; Tham luận của Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank), Hoàn thiện pháp luật về đăng ký biện pháp bảo đảm; Tham luận của Ngân hàng TMCP Kỹ thương Việt Nam (Techcombank), Góp ý dự thảo Nghị định thay thế Nghị định số 99/2022/NĐ-CP, trình bày tại Tọa đàm lấy ý kiến dự thảo Nghị định do Cục Đăng ký giao dịch bảo đảm và Bồi thường nhà nước, Bộ Tư pháp tổ chức ngày 30 tháng 6 năm 2026.
[3] Tham luận của Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV), Góp ý dự thảo Nghị định thay thế Nghị định số 99/2022/NĐ-CP về đăng ký biện pháp bảo đảm; Tham luận của Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank), Hoàn thiện pháp luật về đăng ký biện pháp bảo đảm; Tham luận của Ngân hàng TMCP Kỹ thương Việt Nam (Techcombank), Góp ý dự thảo Nghị định thay thế Nghị định số 99/2022/NĐ-CP, trình bày tại Tọa đàm lấy ý kiến dự thảo Nghị định do Cục Đăng ký giao dịch bảo đảm và Bồi thường nhà nước, Bộ Tư pháp tổ chức ngày 30 tháng 6 năm 2026.