SỰ CẦN THIẾT VÀ NHỮNG ĐỊNH HƯỚNG LỚN TRONG VIỆC SỬA ĐỔI, BỔ SUNG LUẬT TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG CỦA NHÀ NƯỚC
29/06/2026
I. Sự cần thiết phải sửa đổi, bổ sung Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước để đáp ứng yêu cầu trong bối cảnh tình hình mới
1. Những hạn chế, vướng mắc trong các quy định của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước
Chế định bồi thường nhà nước được ra đời nhằm thực hiện mục tiêu quan trọng trong công cuộc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, đó là bảo đảm và bảo vệ công lý, quyền con người, quyền công dân. Ở Việt Nam, chế định trách nhiệm bồi thường của Nhà nước đã được hình thành từ rất sớm và được thể hiện xuyên suốt thông qua các bản Hiến pháp, từ Hiến pháp năm 1959[1], Hiến pháp năm 1980[2], Hiến pháp năm 1992[3] và Hiến pháp năm 2013[4], đều quy định quyền được bồi thường do người thi hành công vụ gây ra. Thể chế hóa các quy định của Hiến pháp về quyền được Nhà nước bồi thường của người dân khi bị các hành vi công vụ gây thiệt hại, pháp luật về trách nhiệm bồi thường của Nhà nước được ban hành đã góp phần từng bước nâng cao trách nhiệm của người thi hành công vụ, tạo cơ chế giám sát hữu hiệu trong thực hiện công vụ của cán bộ, công chức, qua đó giảm thiểu các hành vi sai phạm trong quá trình thực hiện nhiệm vụ công vụ.
Thể chế hóa các quy định của Hiến pháp năm 2013, Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2017 được ban hành và triển khai thực hiện đã tiếp tục là một công cụ pháp lý quan trọng góp phần đáng kể vào việc bảo đảm các quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức bị thiệt hại, góp phần nâng cao nhận thức pháp luật của đội ngũ cán bộ, công chức và người dân, doanh nghiệp, tác động lớn đến việc phòng ngừa hành vi vi phạm pháp luật của người thi hành công vụ trong thực thi chức trách, nhiệm vụ, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả trong thi hành công vụ. Kết quả tổ chức thi hành Luật TNBTCNN năm 2017 đã khẳng định trách nhiệm của Nhà nước với Nhân dân, giúp củng cố niềm tin của Nhân dân vào chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước.
Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đã đạt được, qua thực tiễn triển khai thi hành, một số quy định của Luật TNBTCNN đã bộc lộ những hạn chế, vướng mắc, một số quy định không còn phù hợp như:
(1) Quy định về phạm vi trách nhiệm bồi thường của Nhà nước theo phương pháp liệt kê các trường hợp cụ thể (từ Điều 17 đến Điều 21) dẫn tới hiện nay có nhiều nội dung chưa phù hợp với sự thay đổi của hệ thống pháp luật cũng như những chủ trương, định hướng mới trong thực hiện quyền con người, quyền công dân. Cụ thể:
- Tại mục 1.3 Điều 5 Quy định số 231-QĐ/TW đã quy định người đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực có quyền “Được bồi thường theo quy định của pháp luật về Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước khi cơ quan có thẩm quyền không áp dụng biện pháp bảo vệ hoặc áp dụng không kịp thời gây thiệt hại về tính mạng, sức khoẻ, tài sản, tinh thần của người đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực hoặc người thân”. Tuy nhiên, Luật TNBTCNN năm 2017 chưa quy định việc bồi thường đối với những trường hợp này.
- Một số luật được ban hành sau khi Luật TNBTCNN năm 2017 có hiệu lực thi hành đã quy định khác với Luật này về phạm vi trách nhiệm bồi thường của nhà nước dẫn đến sự chưa thống nhất, đồng bộ trong hệ thống pháp luật. Ví dụ: Luật Tố cáo, Luật Quản lý thuế đã xác định phạm vi TNBTCNN tại các luật này khác với quy định trong Luật TNBTCNN năm 2017.
- Một số hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ mặc dù thuộc phạm vi trách nhiệm bồi thường của nhà nước trong quản lý hành chính nhưng chưa được quy định trong Luật TNBTCNN ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của người bị thiệt hại[5].
(2) Một số quy định về cơ quan giải quyết bồi thường không còn phù hợp với tổ chức bộ máy nhà nước sau sắp xếp lại. Đồng thời, yêu cầu thể chế hóa Quy định số 231-QĐ/TW đòi hỏi phải bổ sung quy định về việc các cơ quan có thẩm quyền áp dụng các biện pháp bảo vệ người đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực và người thân của họ là cơ quan giải quyết bồi thường (khi không thực hiện hoặc thực hiện không đúng, không kịp thời các biện pháp bảo vệ).
(3) Quy định về trình tự, thủ tục giải quyết yêu cầu bồi thường chưa đáp ứng được yêu cầu cải cách, đơn giản hóa thủ tục hành chính, còn quy định nhiều loại giấy tờ, tài liệu trong quá trình yêu cầu bồi thường và không còn phù hợp với chủ trương ứng dụng công nghệ số, dữ liệu số hiện nay. Ngoài ra, Luật TNBTCNN hiện hành quy định cơ quan giải quyết bồi thường chỉ ra quyết định giải quyết bồi thường trong trường hợp thương lượng thành. Đối với nội dung thương lượng không thành, người yêu cầu bồi thường buộc phải khởi kiện ra Tòa án để tiếp tục yêu cầu giải quyết việc bồi thường. Quy định này chưa thể hiện rõ trách nhiệm của cơ quan giải quyết yêu cầu bồi thường khi thương lượng không thành (không ra quyết định giải quyết bồi thường nhưng cũng không ban hành văn bản để chấm dứt hoặc đình chỉ việc giải quyết tại cơ quan này), đồng thời chưa tạo ra cơ chế để người yêu cầu bồi thường có thể chấp nhận mức bồi thường đã được đề nghị trong quá trình thương lượng trước đó mà không cần khởi kiện ra tòa án
(4) Quy định về kinh phí bồi thường chưa phù hợp với quy định của Luật Ngân sách nhà nước. Đồng thời, hiện nay Luật mới chỉ quy định nguồn kinh phí để chi trả tiền bồi thường cho người bị thiệt hại mà chưa có quy định về kinh phí cho việc thực hiện công tác bồi thường nhà nước nói chung, dẫn đến kinh phí cấp cho các cơ quan để thực hiện công tác bồi thường nhà nước là rất ít, thậm chí là không có, trong khi mục tiêu của công tác bồi thường nhà nước nhằm hướng đến phòng ngừa phát sinh các sai phạm dẫn đến bồi thường nhà nước;
(5) Một số quy định về trách nhiệm hoàn trả của người thi hành công vụ gây thiệt hại trong Luật còn chưa đáp ứng được yêu cầu của thực tiễn phát sinh. Luật TNBTCNN chưa quy định về xác định trách nhiệm hoàn trả trong trường hợp người thi hành công vụ gây thiệt hại khi thực hiện đề xuất về đổi mới, sáng tạo được cơ quan có thẩm quyền cho phép và được cấp có thẩm quyền xác định đã thực hiện đúng chủ trương, có động cơ trong sáng, vì lợi ích chung; đồng thời, chưa quy định về các trường hợp được miễn hoàn trả khi người có trách nhiệm hoàn trả gây thiệt hại do lỗi vô ý thuộc trường hợp mắc bệnh hiểm nghèo có xác nhận của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh theo quy định của pháp luật hoặc lâm vào hoàn cảnh kinh tế đặc biệt khó khăn kéo dài do thiên tai, hỏa hoạn, tai nạn hoặc lập công lớn được người, cơ quan có thẩm quyền xác nhận.
2. Cơ sở chính trị, pháp lý đặt ra cần phải sửa đổi, bổ sung Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước
- Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng Cộng sản Việt Nam đã đưa ra những định hướng phát triển đất nước giai đoạn 2026-2030 là: (1) “lấy việc tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, hạnh phúc và sự hài lòng của Nhân dân làm thước đo và mục tiêu phấn đấu” và (2) “Tiếp tục đẩy mạnh xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân...; bảo đảm và bảo vệ công lý, quyền con người, quyền công dân”.
- Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 09/11/2022 Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới đã xác định nhiệm vụ: “Tiếp tục thể chế hóa, cụ thể hóa kịp thời, đầy đủ quan điểm, chủ trương của Đảng và quy định của Hiến pháp về quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân; nội luật hóa hóa điều ước quốc tế về quyền con người mà Việt Nam đã tham gia; xác định rõ trách nhiệm của cơ quan nhà nước trong việc tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ quyền con người, quyền công dân.
- Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới đặt ra mục tiêu đến năm 2027: “hoàn thành việc sửa đổi, bổ sung, ban hành mới văn bản pháp luật bảo đảm cơ sở pháp lý đồng bộ cho hoạt động của bộ máy nhà nước theo mô hình chính quyền 3 cấp” và tầm nhìn đến năm 2045: “Việt Nam có hệ thống pháp luật chất lượng cao, hiện đại, tiệm cận chuẩn mực, thông lệ quốc tế tiên tiến và phù hợp với thực tiễn đất nước, được thực hiện nghiêm minh, nhất quán, tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ hiệu quả quyền con người, quyền công dân”.
- Ngày 17/01/2025, Bộ Chính trị đã ban hành Quy định số 231-QĐ/TW về bảo vệ người đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực. Tại mục 1.3 Điều 5 Quy định số 231-QĐ/TW đã quy định người đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực có quyền “Được bồi thường theo quy định của pháp luật về trách nhiệm bồi thường của Nhà nước khi cơ quan có thẩm quyền không áp dụng biện pháp bảo vệ hoặc áp dụng không kịp thời gây thiệt hại về tính mạng, sức khoẻ, tài sản, tinh thần của người đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực hoặc người thân”. Tuy nhiên, Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2017 chưa có quy định việc bồi thường đối với những trường hợp này.
- Thời gian qua, thực hiện chủ trương sắp xếp tổ chức bộ máy nhà nước, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, thực hiện chính quyền địa phương 02 cấp và yêu cầu phải cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính, nhiều văn bản quy phạm pháp luật đã được ban hành, trong đó có liên quan đến các quy định của Luật TNBTCNN, ví dụ như: Nghị quyết số 203/2025/QH15 ngày 16/6/2025 của Quốc hội sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; Luật Tổ chức chính phủ số 63/2025/QH15, Luật Tổ chức chính quyền địa phương số 72/2025/QH15, Luật Thi hành án dân sự số 106/2025/QH15, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tổ chức Tòa án nhân dân số 81/2025/QH15, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân số 82/2025/QH15... Theo đó, các quy định của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước cần rà soát, sửa đổi, bổ sung để đảm bảo đồng bộ, thống nhất với hệ thống pháp luật hiện hành.
Như vậy, để khắc phục những hạn chế, vướng mắc trong các quy định của Luật và để phù hợp với bối cảnh tình hình mới hiện nay thì việc sửa đổi, bổ sung Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước là hết sức cần thiết để đảm bảo thể chế hóa đầy đủ, kịp thời các chủ trương, đường lối của Đảng về bảo đảm quyền con người, quyền công dân, quyền được Nhà nước bồi thường khi bị thiệt hại do hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ gây ra; đồng thời đảm bảo tính đồng bộ, thống nhất với hệ thống pháp luật hiện hành và khắc phục được những hạn chế, bất cập trong quá trình tổ chức thực hiện Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2017.
III. Những định hướng lớn trong việc sửa đổi, bổ sung Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước
Trong quá trình nghiên cứu, Bộ Tư pháp đã xác định 03 định hướng lớn trong việc sửa đổi, bổ sung Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước, cụ thể như sau:
1. Sửa đổi, bổ sung Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước để thể chế hóa quy định về quyền được bồi thường của người đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực tại điểm 1.3 khoản 1 Điều 5 Quy định số 231-QĐ/TW ngày 17/01/2025 của Bộ Chính trị về bảo vệ người đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực.
Quyền được bồi thường của người đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực khi cơ quan có thẩm quyền không áp dụng biện pháp bảo vệ hoặc áp dụng không kịp thời gây thiệt hại về tính mạng, sức khoẻ, tài sản, tinh thần của người đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực hoặc người thân đã được Bộ Chính trị ghi nhận tại mục 1.3 Điều 5 Quy định số 231-QĐ/TW ngày 17/01/2025 về bảo vệ người đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực. Đồng thời, tại khoản 2 Điều 11 Quy định số 231-QĐ/TW cũng quy định: “Đảng ủy Quốc hội, Đảng ủy Chính phủ chỉ đạo rà soát, sửa đổi, bổ sung, ban hành các văn bản pháp luật liên quan đến bảo vệ người đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, bảo đảm đồng bộ, thống nhất với quy định này”
Thể chế hóa các quy định nêu trên của Bộ Chính trị, dự thảo Luật dự kiến bổ sung quy định Nhà nước có trách nhiệm bồi thường khi không áp dụng hoặc áp dụng không kịp thời theo quy định của pháp luật các biện pháp bảo vệ bí mật danh tính và các thông tin cá nhân khác, tính mạng, sức khỏe, tài sản, tinh thần của người đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực hoặc người thân.
2. Sửa đổi, bổ sung Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước đảm bảo phù hợp với chủ trương, chính sách mới của Đảng và Nhà nước, các luật mới ban hành, việc sắp xếp tổ chức bộ máy Nhà nước và việc thực hiện chính quyền địa phương hai cấp, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, cải cách, đơn giản hóa thủ tục hành chính trong lĩnh vực bồi thường nhà nước.
Với định hướng này, dự thảo Luật dự kiến sửa đổi các quy định của Luật về cơ quan giải quyết bồi thường (trong hoạt động quản lý hành chính, trong hoạt động thi hành án, trong hoạt động tố tụng…) cho phù hợp với tổ chức bộ máy mới của các cơ quan sau sắp xếp. Đồng thời sửa đổi, bổ sung các quy định về trình tự, thủ tục giải quyết yêu cầu bồi thường để đảm bảo đơn giản hóa giấy tờ, tài liệu, cải cách thủ tục hành chính, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong quá trình giải quyết yêu cầu bồi thường. Sửa đổi các quy định về quản lý nhà nước về công tác bồi thường để đảm bảo đẩy mạnh phân cấp, phân quyền trong công tác bồi thường nhà nước.
3. Sửa đổi, bổ sung Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước nhằm khắc phục những khó khăn, vướng mắc phát sinh trong tổ chức thực hiện Luật.
Với định hướng này, các quy định của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước sẽ được rà soát các quy định từ các quy định chung, phạm vi trách nhiệm bồi thường của Nhà nước, thiệt hại được bồi thường, cơ quan giải quyết bồi thường, trình tự thủ tục giải quyết bồi thường, kinh phí bồi thường, trách nhiệm hoàn trả của người thi hành công vụ gây thiệt hại…để sửa đổi, bổ sung nhằm khắc phục những khó khăn, vướng mắc trong thực tiễn thi hành đã nêu ở phần I bài viết này.
Theo Kế hoạch, hồ sơ dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước sẽ được Quốc hội xem xét, thông qua tại Kỳ họp không thường lệ tháng 8/2026.
[1] Điều 29 Hiến pháp năm 1959 quy định: “Công dân nước Việt Nam dân chủ cộng hoà có quyền khiếu nại và tố cáo với bất cứ cơ quan Nhà nước nào về những hành vi phạm pháp của nhân viên cơ quan Nhà nước. Những việc khiếu nại và tố cáo phải được xét và giải quyết nhanh chóng. Người bị thiệt hại vì hành vi phạm pháp của nhân viên cơ quan Nhà nước có quyền được bồi thường”.
[2] Điều 73 Hiến pháp năm 1980 quy định: “Công dân có quyền khiếu nại và tố cáo với bất cứ cơ quan nào của Nhà nước về những việc làm trái pháp luật của cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân hoặc của bất cứ cá nhân nào thuộc các cơ quan, tổ chức và đơn vị đó. Các điều khiếu nại và tố cáo phải được xem xét và giải quyết nhanh chóng. Mọi hành động xâm phạm quyền lợi chính đáng của công dân phải được kịp thời sửa chữa và xử lý nghiêm minh. Người bị thiệt hại có quyền được bồi thường. Nghiêm cấm việc trả thù người khiến nại, tố cáo”.
[3] Điều 72 Hiến pháp 1992 quy định: “Không ai bị coi là có tội và phải chịu hình phạt khi chưa có bản án kết tội của Toà án đã có hiệu lực pháp luật. Người bị bắt, bị giam giữ, bị truy tố, xét xử trái pháp luật có quyền được bồi thường thiệt hại về vật chất và phục hồi danh dự. Người làm trái pháp luật trong việc bắt, giam giữ, truy tố, xét xử gây thiệt hại cho người khác phải bị xử lý nghiêm minh.
Điều 74 Hiến pháp 1992 quy định: “Công dân có quyền khiếu nại, quyền tố cáo với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền về những việc làm trái pháp luật của cơ quan Nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân hoặc bất cứ cá nhân nào. Việc khiếu nại, tố cáo phải được cơ quan Nhà nước xem xét và giải quyết trong thời hạn pháp luật quy định. Mọi hành vi xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tập thể và của công dân phải được kịp thời xử lý nghiêm minh. Người bị thiệt hại có quyền được bồi thường về vật chất và phục hồi danh dự. Nghiêm cấm việc trả thù người khiếu nại, tố cáo hoặc lợi dụng quyền khiếu nại, tố cáo để vu khống, vu cáo làm hại người khác.”
[4] Điều 30 Hiến pháp năm 2013 quy định: “1. Mọi người có quyền khiếu nại, tố cáo với cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền về những việc làm trái pháp luật của cơ quan, tổ chức, cá nhân. 2. Cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền phải tiếp nhận, giải quyết khiếu nại, tố cáo. Người bị thiệt hại có quyền được bồi thường về vật chất, tinh thần và phục hồi danh dự theo quy định của pháp luật. 3. Nghiêm cấm việc trả thù người khiếu nại, tố cáo hoặc lợi dụng quyền khiếu nại, tố cáo để vu khống, vu cáo làm hại người khác.
Điều 31 Hiến pháp năm 2013 quy định: “1. Người bị buộc tội được coi là không có tội cho đến khi được chứng minh theo trình tự luật định và có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật. 2. Người bị buộc tội phải được Tòa án xét xử kịp thời trong thời hạn luật định, công bằng, công khai. Trường hợp xét xử kín theo quy định của luật thì việc tuyên án phải được công khai.3. Không ai bị kết án hai lần vì một tội phạm. 4. Người bị bắt, tạm giữ, tạm giam, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử có quyền tự bào chữa, nhờ luật sư hoặc người khác bào chữa. 5. Người bị bắt, tạm giữ, tạm giam, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án trái pháp luật có quyền được bồi thường thiệt hại về vật chất, tinh thần và phục hồi danh dự. Người vi phạm pháp luật trong việc bắt, giam, giữ, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án gây thiệt hại cho người khác phải bị xử lý theo pháp luật.”
[5] Hành vi cấp, thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp trái pháp luật được bồi thường trong khi hành vi hủy bỏ giấy tờ này trái pháp luật, gây thiệt hại thì không được Nhà nước bồi thường.