Sửa đổi Luật Trách nhiệm bồi thường theo hướng đơn giản hóa hồ sơ yêu cầu bồi thường, giảm tải nghĩa vụ chứng minh, tạo thuận lợi cho người yêu cầu bồi thường
10/07/2026
Đặt vấn đề
Trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, quyền được bồi thường của cá nhân, tổ chức khi bị thiệt hại do hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ gây ra là một trong những quyền quan trọng trong các quyền con người, quyền công dân. Quyền được Nhà nước bồi thường là một trong những quyền hiến định quan trọng nhất, được ghi nhận xuyên suốt qua các bản Hiến pháp của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, từ Hiến pháp năm 1959[1], Hiến pháp năm 1980[2], Hiến pháp năm 1992[3] và Hiến pháp năm 2013[4], đều quy định quyền được bồi thường do người thi hành công vụ gây ra.
Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2017 ra đời mang ý nghĩa sâu sắc cả về mặt pháp lý, chính trị và xã hội, với mục đích cao nhất là bảo vệ quyền lợi của công dân và nâng cao hiệu quả hoạt động của bộ máy nhà nước; là công cụ pháp lý quan trọng để cụ thể hóa quyền hiến định nêu trên. Tuy nhiên, thực tiễn sau hơn 08 năm thi hành cho thấy còn có những tồn tại, hạn chế nhất định. Một trong những hạn chế là quy định về thủ tục yêu cầu bồi thường còn phức tạp, còn mang nặng tính hành chính, đặt gánh nặng chứng minh lên người bị thiệt hại, trong khi việc thu thập thông tin và chứng cứ của người dân còn gặp nhiều khó khăn. Vì vậy, cần nghiên cứu để đơn giản hóa hồ sơ yêu cầu bồi thường, giảm tải nghĩa vụ chứng minh, tạo thuận lợi cho người yêu cầu bồi thường.
1. Quy định pháp luật hiện hành về hồ sơ yêu cầu bồi thường và nghĩa vụ chứng minh của người yêu cầu bồi thường
Bồi thường nhà nước là một chế định pháp lý về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, được xây dựng trên cơ sở các nguyên tắc chung của pháp luật dân sự và được quy định cụ thể trong Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước. So với cơ chế bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng thông thường, bồi thường nhà nước có những đặc thù nhất định về chủ thể có trách nhiệm bồi thường, căn cứ phát sinh trách nhiệm, phạm vi trách nhiệm, cũng như trình tự, thủ tục giải quyết yêu cầu bồi thường.
Trong quan hệ bồi thường nhà nước, chủ thể có trách nhiệm bồi thường là Nhà nước. Tuy nhiên, việc thực hiện trách nhiệm bồi thường được Nhà nước giao cho cơ quan có trách nhiệm bồi thường theo quy định của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước. Theo đó, cơ quan có trách nhiệm bồi thường là cơ quan trực tiếp quản lý người thi hành công vụ đã gây ra thiệt hại hoặc cơ quan được xác định theo quy định của Luật. Cơ chế này nhằm bảo đảm việc thực hiện trách nhiệm bồi thường của Nhà nước được thống nhất, đúng thẩm quyền và phù hợp với đặc thù hoạt động công vụ.
Theo quy định của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước, quan hệ pháp luật về bồi thường nhà nước có hai chủ thể trực tiếp tham gia, gồm: (i) cơ quan có trách nhiệm bồi thường, với tư cách là cơ quan đại diện Nhà nước thực hiện việc giải quyết bồi thường; và (ii) người yêu cầu bồi thường là cá nhân hoặc tổ chức có quyền yêu cầu Nhà nước bồi thường khi thuộc trường hợp được bồi thường theo quy định của pháp luật.
Theo quy định tại Điều 41 Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước, người yêu cầu bồi thường phải gửi văn bản yêu cầu đến cơ quan giải quyết bồi thường. Khi gửi văn bản yêu cầu bồi thường phải kèm theo các tài liệu làm căn cứ yêu cầu bồi thường và các giấy tờ liên quan khác như: văn bản làm căn cứ yêu cầu bồi thường, giấy tờ chứng minh nhân thân (tùy từng trường hợp), tài liệu, chứng cứ có liên quan đến việc yêu cầu bồi thường (nếu có). Đồng thời, tại điểm c khoản 2 Điều 13 của Luật có quy định người yêu cầu bồi thường có nghĩa vụ chứng minh “mối quan hệ nhân quả giữa thiệt hại thực tế và hành vi gây thiệt hại”. Về mặt kỹ thuật lập pháp, đây là cách thiết kế nhằm bảo đảm tính chặt chẽ trong việc xác định trách nhiệm bồi thường.
Tuy nhiên, quy định nêu trên lại đặt ra nghĩa vụ kép đối với người yêu cầu bồi thường, bao gồm: nghĩa vụ khởi xướng bằng một văn bản mang tính hình thức hành chính; và nghĩa vụ cung cấp tài liệu, chứng cứ để chứng minh thiệt hại và căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường của Nhà nước cũng như mối quan hệ nhân quả giữa thiệt hại thực tế và hành vi gây thiệt hại. Trong khi đó, trên thực tế, nhiều tài liệu quan trọng (như văn bản làm căn cứ yêu cầu bồi thường) lại do chính các cơ quan nhà nước đang quản lý hoặc có điều kiện tiếp cận thuận lợi hơn. Điều này, trong một số trường hợp dẫn đến tình trạng người dân gặp khó khăn trong việc có được giấy tờ, tài liệu để bổ sung, hoàn thiện hồ sơ dẫn đến vụ việc chậm được thụ lý, làm kéo dài thời gian giải quyết. Mặt khác, hiện nay, nhiều cơ sở dữ liệu đã được ban hành và Chính phủ cũng đã chỉ đạo phải đơn giản hóa, cắt giảm thủ tục hành chính.
Vì vậy, cần phải sửa đổi các quy định của Luật TNBTCNN theo hướng đơn giản hóa hồ sơ yêu cầu bồi thường dựa trên dữ liệu, giảm tải nghĩa vụ chứng minh của người yêu cầu bồi thường, quy định thêm trách nhiệm, nghĩa vụ của cơ quan nhà nước trong việc bảo đảm quyền của người yêu cầu bồi thường.
2. Đề xuất, kiến nghị
Xuất phát từ những bất cập nêu trên, dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước đang được xây dựng theo hướng đơn giản hóa hồ sơ yêu cầu bồi thường và giảm tải nghĩa vụ chứng minh của người yêu cầu bồi thường, cụ thể:
Thứ nhất, sửa đổi, bổ sung Điều 41 theo hướng hồ sơ yêu cầu bồi thường chỉ còn 02 loại giấy tờ, tài liệu (Điều 41 cũ đang quy định có 04 loại giấy tờ, tài liệu). Đồng thời, các thông tin về nhân thân trong văn bản yêu cầu bồi thường cũng sẽ được thiết kế theo hướng tối giản, không buộc người yêu cầu bồi thường phải cung cấp hết vì những thông tin này đã có trên các cơ sở dữ liệu được ban hành. Đồng thời quy định phương thức gửi hồ sơ yêu cầu bồi thường qua môi trường số (gửi qua phương thức điện tử, gửi yêu cầu bồi thường qua VNeID hoặc qua Cổng dịch vụ công Quốc gia… . ).
Thứ hai, sửa đổi điểm c khoản 2 Điều 13 theo hướng không quy định người yêu cầu bồi thường phải chứng minh mối quan hệ nhân quả giữa thiệt hại thực tế và hành vi gây thiệt hại.
Thứ ba, quy định trường hợp hồ sơ yêu cầu bồi thường chưa có văn bản làm căn cứ yêu cầu bồi thường hoặc nội dung văn bản làm căn cứ yêu cầu bồi thường chưa rõ thì cơ quan giải quyết bồi thường yêu cầu cơ quan, người có thẩm quyền cung cấp hoặc làm rõ.
Cách tiếp cận và quy định này của dự thảo thể hiện sự chuyển đổi từ mô hình “quản lý hành chính” sang “phục vụ người dân”, phù hợp với xu hướng cải cách thủ tục hành chính và xây dựng Chính phủ điện tử, Chính phủ số hiện nay. Với sự phát triển của hệ thống cơ sở dữ liệu quốc gia, việc các cơ quan nhà nước tự thu thập, khai thác thông tin là hoàn toàn khả thi. Điều này không chỉ giúp giảm gánh nặng cho người yêu cầu bồi thường mà còn nâng cao độ chính xác của các giấy tờ, tài liệu.
Tuy nhiên, để việc đơn giản hóa thủ tục thực sự có ý nghĩa thì phải đi kèm với các điều kiện bảo đảm thực thi đó là phải nâng cao năng lực tổ chức thực hiện, đặc biệt trong việc khai thác hồ sơ, dữ liệu và phối hợp liên ngành. Đồng thời, cần quy định rõ hơn về trách nhiệm và thời hạn xử lý, nhằm bảo đảm tính minh bạch và tránh kéo dài thời gian giải quyết để bảo đảm khi trách nhiệm được chuyển sang cơ quan nhà nước thì yêu cầu đặt ra không chỉ là quy định trên giấy mà phải là khả năng thực hiện trên thực tế. Việc chuyển từ cách tiếp cận “hồ sơ hóa” sang “bảo đảm thực chất quyền của người dân” trong thủ tục yêu cầu bồi thường nhà nước là một bước tiến cần thiết. Đây không chỉ là sự điều chỉnh về kỹ thuật lập pháp, mà còn là sự thay đổi về tư duy quản lý, hướng tới một nền hành chính phục vụ và một hệ thống pháp luật lấy quyền của người dân làm trung tâm.
Như vậy, đơn giản hóa thủ tục yêu cầu bồi thường nhà nước là một yêu cầu tất yếu trong tiến trình hoàn thiện Nhà nước pháp quyền và cải cách hành chính ở Việt Nam hiện nay. Đồng thời, để cải cách này đạt hiệu quả, cần được triển khai đồng bộ với các giải pháp về tổ chức thực hiện và hoàn thiện pháp luật có liên quan. Đây là cơ sở quan trọng để nâng cao hiệu quả thực thi Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước trong thời gian tới./.
[1] Điều 29 Hiến pháp năm 1959 quy định: “Công dân nước Việt Nam dân chủ cộng hoà có quyền khiếu nại và tố cáo với bất cứ cơ quan Nhà nước nào về những hành vi phạm pháp của nhân viên cơ quan Nhà nước. Những việc khiếu nại và tố cáo phải được xét và giải quyết nhanh chóng. Người bị thiệt hại vì hành vi phạm pháp của nhân viên cơ quan Nhà nước có quyền được bồi thường”.
[2] Điều 73 Hiến pháp năm 1980 quy định: “Công dân có quyền khiếu nại và tố cáo với bất cứ cơ quan nào của Nhà nước về những việc làm trái pháp luật của cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân hoặc của bất cứ cá nhân nào thuộc các cơ quan, tổ chức và đơn vị đó. Các điều khiếu nại và tố cáo phải được xem xét và giải quyết nhanh chóng. Mọi hành động xâm phạm quyền lợi chính đáng của công dân phải được kịp thời sửa chữa và xử lý nghiêm minh. Người bị thiệt hại có quyền được bồi thường. Nghiêm cấm việc trả thù người khiến nại, tố cáo”.
[3] Điều 72 Hiến pháp 1992 quy định: “Không ai bị coi là có tội và phải chịu hình phạt khi chưa có bản án kết tội của Toà án đã có hiệu lực pháp luật. Người bị bắt, bị giam giữ, bị truy tố, xét xử trái pháp luật có quyền được bồi thường thiệt hại về vật chất và phục hồi danh dự. Người làm trái pháp luật trong việc bắt, giam giữ, truy tố, xét xử gây thiệt hại cho người khác phải bị xử lý nghiêm minh.
Điều 74 Hiến pháp 1992 quy định: “Công dân có quyền khiếu nại, quyền tố cáo với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền về những việc làm trái pháp luật của cơ quan Nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân hoặc bất cứ cá nhân nào. Việc khiếu nại, tố cáo phải được cơ quan Nhà nước xem xét và giải quyết trong thời hạn pháp luật quy định. Mọi hành vi xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tập thể và của công dân phải được kịp thời xử lý nghiêm minh. Người bị thiệt hại có quyền được bồi thường về vật chất và phục hồi danh dự. Nghiêm cấm việc trả thù người khiếu nại, tố cáo hoặc lợi dụng quyền khiếu nại, tố cáo để vu khống, vu cáo làm hại người khác.”
[4] Điều 30 Hiến pháp năm 2013 quy định: “1. Mọi người có quyền khiếu nại, tố cáo với cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền về những việc làm trái pháp luật của cơ quan, tổ chức, cá nhân. 2. Cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền phải tiếp nhận, giải quyết khiếu nại, tố cáo. Người bị thiệt hại có quyền được bồi thường về vật chất, tinh thần và phục hồi danh dự theo quy định của pháp luật. 3. Nghiêm cấm việc trả thù người khiếu nại, tố cáo hoặc lợi dụng quyền khiếu nại, tố cáo để vu khống, vu cáo làm hại người khác.
Điều 31 Hiến pháp năm 2013 quy định: “1. Người bị buộc tội được coi là không có tội cho đến khi được chứng minh theo trình tự luật định và có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật. 2. Người bị buộc tội phải được Tòa án xét xử kịp thời trong thời hạn luật định, công bằng, công khai. Trường hợp xét xử kín theo quy định của luật thì việc tuyên án phải được công khai.3. Không ai bị kết án hai lần vì một tội phạm. 4. Người bị bắt, tạm giữ, tạm giam, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử có quyền tự bào chữa, nhờ luật sư hoặc người khác bào chữa. 5. Người bị bắt, tạm giữ, tạm giam, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án trái pháp luật có quyền được bồi thường thiệt hại về vật chất, tinh thần và phục hồi danh dự. Người vi phạm pháp luật trong việc bắt, giam, giữ, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án gây thiệt hại cho người khác phải bị xử lý theo pháp luật.”