Trong pháp luật về trách nhiệm bồi thường của Nhà nước, bên cạnh việc quy định trách nhiệm của Nhà nước đối với người bị thiệt hại, pháp luật còn thiết lập cơ chế hoàn trả nhằm xác định trách nhiệm vật chất của người thi hành công vụ có hành vi trái pháp luật gây thiệt hại. Theo đó, sau khi Nhà nước đã thực hiện việc bồi thường cho người bị thiệt hại, cơ quan có trách nhiệm sẽ xem xét trách nhiệm hoàn trả của người thi hành công vụ căn cứ vào mức độ lỗi, tính chất của hành vi vi phạm và các điều kiện khác theo quy định của pháp luật về trách nhiệm bồi thường của Nhà nước. Cơ chế này vừa bảo đảm quyền được bồi thường của người bị thiệt hại, vừa bảo đảm nguyên tắc cá thể hóa trách nhiệm của người thi hành công vụ, góp phần sử dụng hiệu quả ngân sách nhà nước và tăng cường trách nhiệm trong thực thi công vụ. Quy định về trách nhiệm hoàn trả đã trải qua nhiều giai đoạn hình thành và hoàn thiện, ngày càng phù hợp với thực tiễn và đáp ứng được các yêu cầu trong tình hình mới.
1. Quy định về trách nhiệm hoàn trả của người thi hành công vụ gây thiệt hại trước khi có Luật Trách nhiệm bồi thường của nhà nước
Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật ở Việt Nam trước khi ban hành Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước (sau đây gọi là Luật TNBTCNN) cũng đã có nhiều quy định về trách nhiệm hoàn trả của người thi hành công vụ gây thiệt hại (sau đây gọi là trách nhiệm hoàn trả). Cụ thể:
Nhằm tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, tôn trọng và bảo đảm các quyền công dân, Điều 72 Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001) quy định: “Người bị bắt, bị giam giữ, bị truy tố, xét xử trái pháp luật có quyền được bồi thường thiệt hại về vật chất và phục hồi danh dự. Người làm trái pháp luật trong việc bắt, giam giữ, truy tố, xét xử gây thiệt hại cho người khác phải bị xử lý nghiêm minh”; Điều 74 Hiến pháp 1992 quy định: “Mọi hành vi xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tập thể và của công dân phải được kịp thời xử lý nghiêm minh. Người bị thiệt hại có quyền được bồi thường về vật chất và phục hồi danh dự”. Kế thừa những quy định trên, tại khoản 2 Điều 30 Hiến pháp 2013 quy định: “Cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền phải tiếp nhận, giải quyết khiếu nại, tố cáo. Người bị thiệt hại có quyền được bồi thường về vật chất, tinh thần và phục hồi danh dự theo quy định của pháp luật”; khoản 5 Điều 31 Hiến pháp 2013 quy định: “Người bị bắt, tạm giữ, tạm giam, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án trái pháp luật có quyền được bồi thường thiệt hại về vật chất, tinh thần và phục hồi danh dự. Người vi phạm pháp luật trong việc bắt, giam, giữ, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án gây thiệt hại cho người khác phải bị xử lý theo pháp luật”.
Thể chế hóa các quy định về bồi thường thiệt hại trong Hiến pháp năm 1992, Bộ luật Dân sự năm 1995 đã dành một chương quy định trách nhiệm dân sự bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng (Chương V). Hơn nữa, Bộ luật này còn quy định hai điều về trách nhiệm bồi thường thiệt hại của Nhà nước là Điều 623 quy định bồi thường thiệt hại do công chức, viên chức nhà nước gây ra: “Cơ quan nhà nước phải bồi thường thiệt hại do công chức, viên chức của mình gây ra trong khi thi hành công vụ. Cơ quan nhà nước có trách nhiệm yêu cầu công chức, viên chức phải hoàn trả khoản tiền mà mình đã bồi thường cho người bị thiệt hại theo quy định của pháp luật, nếu công chức, viên chức có lỗi trong khi thi hành công vụ” và Điều 624 quy định bồi thường thiệt hại do người có thẩm quyền của cơ quan tiến hành tố tụng gây ra: “Cơ quan tiến hành tố tụng phải bồi thường thiệt hại do người có thẩm quyền của mình gây ra trong khi thực hiện nhiệm vụ điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án. Cơ quan tiến hành tố tụng có trách nhiệm yêu cầu người có thẩm quyền đã gây thiệt hại phải hoàn trả khoản tiền mà mình đã bồi thường cho người bị thiệt hại theo quy định của pháp luật, nếu người có thẩm quyền đó có lỗi trong khi thi hành nhiệm vụ”. Theo đó, cơ quan nhà nước, cơ quan tiến hành tố tụng có trách nhiệm bồi thường cho người bị thiệt hại khi công chức, viên chức, người tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền gây ra thiệt hại trong khi thi hành công vụ.
Bộ luật Dân sự năm 2005 tiếp tục kế thừa các quy định về bồi thường thiệt hại do cán bộ, công chức và người có thẩm quyền của cơ quan tiến hành tố tụng gây ra trong Bộ luật Dân sự năm 1995. Cụ thể, Điều 619 quy định về bồi thường thiệt hại do cán bộ, công chức gây ra: “Cơ quan, tổ chức quản lý cán bộ, công chức phải bồi thường thiệt hại do cán bộ, công chức của mình gây ra trong khi thi hành công vụ. Cơ quan, tổ chức quản lý cán bộ, công chức có trách nhiệm yêu cầu cán bộ, công chức phải hoàn trả một khoản tiền theo quy định của pháp luật, nếu cán bộ, công chức có lỗi trong khi thi hành công vụ”. Điều 620 quy định về bồi thường thiệt hại do người có thẩm quyền của cơ quan tiến hành tố tụng gây ra: “Cơ quan tiến hành tố tụng phải bồi thường thiệt hại do người có thẩm quyền của mình gây ra khi thực hiện nhiệm vụ trong quá trình tiến hành tố tụng. Cơ quan tiến hành tố tụng có trách nhiệm yêu cầu người có thẩm quyền đã gây thiệt hại phải hoàn trả một khoản tiền theo quy định của pháp luật, nếu người có thẩm quyền có lỗi trong khi thi hành nhiệm vụ”. Như vậy, theo quy định của Bộ luật Dân sự thì điều kiện để buộc công chức phải có trách nhiệm hoàn trả số tiền mà Nhà nước đã bồi thường là đã có lỗi đối với hành vi gây ra thiệt hại trong khi thi hành công vụ của mình. Đối với những thiệt hại mà công chức gây ra nhưng hoàn toàn không có lỗi trong khi thi hành công vụ thì công chức không phải hoàn trả lại Nhà nước số tiền mà Nhà nước đã bồi thường cho người bị thiệt hại thông qua cơ quan có trách nhiệm bồi thường chi trả.
Nghị định số 47/CP ngày 03/5/1997 của Chính phủ về giải quyết bồi thường thiệt hại do cán bộ, công chức, viên chức nhà nước, người có thẩm quyền của cơ quan tiến hành tố tụng gây ra là một bước tiến lớn trong việc hướng dẫn chi tiết, cụ thể và để triển khai thực hiện có hiệu quả các quy định của Bộ luật Dân sự. Về trách nhiệm hoàn trả, tại Mục 2 Chương 2 Nghị định này có quy định: “...Công chức, viên chức nhà nước, người có thẩm quyền của cơ quan tiến hành tố tụng phải hoàn trả khoản tiền mà cơ quan nhà nước, cơ quan tiến hành tố tụng đã bồi thường cho người bị thiệt hại... Sau khi đã bồi thường cho người bị thiệt hại, Thủ trưởng cơ quan nhà nước, cơ quan tiến hành tố tụng thành lập Hội đồng xét giải quyết việc hoàn trả bồi thường thiệt hại... Hội đồng xét giải quyết việc hoàn trả bồi thường thiệt hại có nhiệm vụ giúp cho Thủ trưởng cơ quan xem xét, đánh giá thiệt hại, xác định mức độ lỗi và khả năng kinh tế của công chức, viên chức nhà nước, người có thẩm quyền của cơ quan tiến hành tố tụng và kiến nghị với Thủ trưởng cơ quan về mức hoàn trả và phương thức hoàn trả bồi thường thiệt hại... Mức hoàn trả do Thủ trưởng cơ quan đó quyết định trên cơ sở kiến nghị của Hội đồng xét giải quyết việc hoàn trả bồi thường thiệt hại... Công chức, viên chức nhà nước, người có thẩm quyền của cơ quan tiến hành tố tụng phải hoàn trả khoản tiền bồi thường cho cơ quan mình theo phương thức hoàn trả một lần bằng tài sản riêng của mình trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày có quyết định hoàn trả hoặc trừ dần vào thu nhập nhưng không dưới 20% và không vượt quá 30% tổng thu nhập từ tiền lương và phụ cấp hàng tháng...”.
Nghị quyết số 388/2003/NQ-UBTVQH11 ngày 17/3/2003 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa XI về bồi thường thiệt hại cho người bị oan do người có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự gây ra cũng có quy định về nghĩa vụ hoàn trả phù hợp với các quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự tại Mục 5: “...Người có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự gây oan do lỗi của minh trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án hình sự có nghĩa vụ hoàn trả theo quy định của pháp luật... Thủ trưởng cơ quan đã thực hiện việc bồi thường thiệt hại có trách nhiệm quyết định mức hoàn trả, phương thức hoàn trả mà người có nghĩa vụ hoàn trả phải thực hiện. Trong trường hợp thủ trưởng cơ quan có trách nhiệm bồi thường thiệt hại là người có nghĩa vụ hoàn trả, thì thủ trưởng cơ quan cấp trên trực tiếp của người đó có trách nhiệm quyết định mức hoàn trả, phương thức hoàn trả... Việc xác định mức hoàn trả và phương thức hoàn trả được thực hiện theo quy định của pháp luật về trách nhiệm vật chất của cán bộ, công chức”.
Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 đã có những quy định cụ thể hóa các quy định tại Điều 72 của Hiến pháp năm 1992 về bồi thường thiệt hại trong lĩnh vực tư pháp, hình sự, nhằm đảm bảo quyền được bồi thường của người bị thiệt hại, người bị oan do cơ quan hoặc người có thẩm quyền tiến hành tố tụng hình sự gây ra. Điều 29 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 quy định: “Người bị oan do người có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự gây ra có quyền được bồi thường thiệt hại và phục hồi danh dự, quyền lợi. Cơ quan có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự đã làm oan phải bồi thường thiệt hại và phục hồi danh dự quyền lợi cho người bị oan; người đã gây ra thiệt hại có trách nhiệm bồi hoàn cho cơ quan có thẩm quyền theo quy định của pháp luật”. Điều 30 quy định: “Người bị thiệt hại do cơ quan hoặc người có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự gây ra có quyền được bồi thường thiệt hại. Cơ quan có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự phải bồi thường cho người bị thiệt hại; người đã gây ra thiệt hại có trách nhiệm bồi hoàn cho cơ quan có thẩm quyền theo quy định của pháp luật”.
Có thể nói, mặc dù đã có quy định về trách nhiệm hoàn trả của công chức gây thiệt hại khi thi hành công vụ tuy nhiên về vấn đề này quy định ở nhiều các văn bản khác nhau, đặc biệt là chưa có cơ chế bảo đảm thi hành một cách hiệu quả, nên chưa được thực thi trên thực tế và chưa có tác dụng răn đe trực tiếp.
2. Trách nhiệm hoàn trả của người thi hành công vụ gây thiệt hại theo quy định của TNBTCNN năm 2009
Ngày 18/6/2009, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XII, kỳ họp thứ 5 đã chính thức thông qua Luật TNBTCNN. Các quy định trong Luật TNBTCNN năm 2009 là sự kết hợp hài hòa giữa việc bảo về lợi ích của cá nhân, tổ chức bị người thi hành công vụ gây ra thiệt hại với việc bảo đảm sự hoạt động ổn định, có hiệu quả của các cơ quan công quyền, đồng thời giữ vững sự ổn định chính trị, trật tự xã hội của đất nước. Một trong những nội dung quan trọng của Luật TNBTCNN năm 2009 là quy định về trách nhiệm hoàn trả của người thi hành công vụ đã gây ra thiệt hại trong khi thi hành công vụ.
Trách nhiệm hoàn trả là một vấn đề quan trọng, liên quan trực tiếp đến nghĩa vụ của người thi hành công vụ đã gây ra thiệt hại, do đó Luật đã dành riêng một chương để quy định về vấn đề này. Sau khi Nhà nước thực hiện trách nhiệm thay thế (gánh chịu thay cho người thi hành công vụ đối với người bị thiệt hại), người thi hành công vụ có lỗi gây ra thiệt hại có nghĩa vụ hoàn trả cho ngân sách nhà nước một khoản tiền mà Nhà nước đã bỏ ra để bồi thường cho người bị thiệt hại theo quyết định của cơ quan có thẩm quyền. Mức hoàn trả được xác định căn cứ vào mức độ lỗi của người thi hành công vụ; mức độ thiệt hại đã gây ra; điều kiện kinh tế của người thi hành công vụ... Bên cạnh đó, để đảm bảo ổn định tâm lý công tác của người có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự, Luật quy định đối với trường hợp gây ra oan trong tố tụng hình sự, người thi hành công vụ không phải chịu trách nhiệm hoàn trả nếu họ có lỗi vô ý.
Trách nhiệm hoàn trả của người thi hành công vụ được quy định từ Điều 56 đến Điều 63 của Luật TNBTCNN, được cụ thể hóa từ Điều 13 đến Điều 20 Nghị định số 16/2010/NĐ-CP của Chính phủ và Thông tư liên tịch số 04/2014/TTLT-BTP-TANDTC-VKSNDTC ngày 23 tháng 01 năm 2014 có hiệu lực ngày 08 tháng 03 năm 2014 hướng dẫn thực hiện trách nhiệm hoàn trả của người thi hành công vụ.
3. Trách nhiệm hoàn trả của người thi hành công vụ gây thiệt hại theo quy định của Luật TNBTCNN năm 2017
So với Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2009, Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2017 đã sửa đổi, bổ sung khá toàn diện chế định trách nhiệm hoàn trả của người thi hành công vụ gây thiệt hại theo hướng minh bạch hơn, tăng cường trách nhiệm cá nhân nhưng vẫn bảo đảm tính nhân văn. Cụ thể:
Để việc thực hiện trách nhiệm hoàn trả có thể được thực hiện ngay, Chương VII Luật TNBTCNN năm 2017 đã sửa đổi, bổ sung toàn diện quy định về trách nhiệm hoàn trả của người thi hành công vụ nhằm nâng cao trách nhiệm của người thi hành công vụ, đồng thời bảo đảm hoạt động bình thường của bộ máy nhà nước, cụ thể:
Tại Chương VII Luật TNBTCNN năm 2017 quy định: (i) người thi hành công vụ có lỗi gây thiệt hại thì đều có nghĩa vụ hoàn trả (theo Luật TNBTCNN năm 2009 thì trong tố tụng hình sự, nếu có lỗi vô ý gây thiệt hại thì không phải chịu trách nhiệm hoàn trả); (ii) quy định rõ 02 trường hợp hoàn trả: trường hợp có 01 người thi hành công vụ gây thiệt hại; trường hợp có nhiều người thi hành công vụ cùng gây thiệt hại. (iii) tăng mức hoàn trả của người thi hành công vụ tương ứng với mức độ lỗi và số tiền mà nhà nước đã bồi thường; (iv) quy định về giảm mức hoàn trả đối với người thi hành công vụ khi đáp ứng đủ một số điều kiện cụ thể; (v) quy định về thẩm quyền, thủ tục xác định trách nhiệm hoàn trả; (vi) quy định về thực hiện việc hoàn trả, xử lý tiền đã hoàn trả, trách nhiệm hoàn trả trong trường hợp văn bản làm căn cứ yêu cầu bồi thường không còn là căn cứ yêu cầu bồi thường, trách nhiệm thu tiền hoàn trả trong trường hợp người thi hành công vụ gây thiệt hại chuyển sang cơ quan, tổ chức khác, đã nghỉ hưu, nghỉ việc, chết.
Có thể thấy, quy định về trách nhiệm hoàn trả đã được hoàn thiện theo thời gian, hướng tới sự cá nhân hóa trách nhiệm của người thi hành công vụ, góp phần tăng cường kỷ luật, kỷ cương trong hoạt động công vụ.
II. Tình hình thực hiện trách nhiệm hoàn trả theo quy định của Luật TNBTCNN năm 2017
1. Những kết quả đạt được
Theo báo cáo Tổng kết 08 năm thi hành Luật TNBTCNN năm 2017, tính từ ngày 01/7/2018 đến hết ngày 31/12/2025, có 118 vụ việc đã chi trả tiền
bồi thường trong số 160 vụ việc đã có văn bản giải quyết bồi thường có hiệu lực
pháp luật. Các cơ quan trực tiếp quản lý người thi hành công vụ gây thiệt hại xem xét hoàn trả đối với 118 vụ việc, trong đó có 29 vụ việc đã có quyết định hoàn trả, 37 vụ việc đang xem xét, 52 vụ không xem xét trách nhiệm hoàn trả. Số vụ việc trong từng lĩnh vực cụ thể là: 35 vụ việc trong hoạt động quản lý hành chính, 68 vụ việc trong hoạt động tố tụng hình sự, 15 vụ việc trong hoạt động THADS. Tổng số tiền phải hoàn trả theo các quyết định xem xét trách nhiệm hoàn trả có hiệu lực trong 03 hoạt động là 2 tỷ 873 triệu 564 nghìn đồng.
Nhìn chung, trong thời gian qua, việc xem xét trách nhiệm hoàn trả được cơ quan giải quyết bồi thường tổ chức thực hiện theo đúng quy định của Luật TNBTCNN và các văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành. Hầu hết Thủ trưởng các cơ quan đã chi trả tiền bồi thường đều ý thức được tầm quan trọng của công tác này và tự giác, chủ động phối hợp với các cơ quan có liên quan thực hiện.
2. Một số khó khăn vướng mắc và kiến nghị
Bên cạnh sự tích cực, chủ động nêu trên và những kết quả đạt được, việc thực hiện xem xét trách nhiệm hoàn trả vẫn còn một số khó khăn, hạn chế và tồn tại, xuất phát từ quá trình tổ chức thực hiện và vướng mắc, bất cập trong các quy định của pháp luật, cụ thể như:
a) Khó khăn, vướng mắc trong tổ chức thực hiện
- Công tác quán triệt, phổ biến, giáo dục pháp luật về TNBTCNN nói chung, quy định về trách nhiệm hoàn trả nói riêng ở một số địa phương còn hình thức nên ở một số nơi chưa thực sự tác động mạnh mẽ đến ý thức thi hành công vụ của cán bộ, công chức.
- UBND một số tỉnh, thành phố chưa quan tâm, chỉ đạo sát sao Sở Tư pháp và các đơn vị liên quan chủ động, kịp thời trong công tác tập huấn, bồi dưỡng kỹ năng nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ, công chức để nâng cao chất lượng thực thi công vụ, hạn chế sai phạm phát sinh TNBTCNN.
- Việc theo dõi, đôn đốc công tác bồi thường nhà nước, công tác xem xét trách nhiệm hoàn trả của cơ quan quản lý nhà nước ở một số địa phương chưa thực sự hiệu quả; hoạt động phối hợp giữa các cơ quan có thẩm quyền trên địa bàn khi thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước về công tác bồi thường nhà nước có lúc, có nơi chưa chủ động và chưa thường xuyên.
- Một số cá nhân còn tâm lý e ngại, cả nể nên việc xem xét trách nhiệm hoàn trả thực hiện chưa được nghiêm túc, kịp thời, dẫn đến vụ việc kéo dài.
b) Khó khăn, vướng mắc quy định của pháp luật
- Luật TNBTCNN chưa quy định về các trường hợp được miễn hoàn trả khi người có trách nhiệm hoàn trả gây thiệt hại do lỗi vô ý thuộc trường hợp mắc bệnh hiểm nghèo có xác nhận của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh theo quy định của pháp luật hoặc lâm vào hoàn cảnh kinh tế đặc biệt khó khăn kéo dài do thiên tai, hỏa hoạn, tai nạn hoặc lập công lớn được người, cơ quan có thẩm quyền xác nhận. Điều này cũng đang tạo ra sự thiếu đồng bộ trong chính sách, pháp luật về cán bộ, công chức hiện nay và chưa bảo đảm tối đa quyền, lợi ích chính đáng cho đối tượng này.
- Luật TNBTCNN và các văn bản hướng dẫn thi hành không có quy định về việc xác định trách nhiệm hoàn trả của người thi hành công vụ gây thiệt hại trong trường hợp mất hồ sơ, không xác định được người thi hành công vụ. Ngoài ra, Luật chưa có cơ chế giải quyết trách nhiệm hoàn trả trong trường hợp không xác định được đầy đủ các thông tin về người thi hành công vụ gây thiệt hại. Đây là những vấn đề đã phát sinh trong thực tiễn, dẫn đến cơ quan chi trả tiền bồi thường gặp khó khăn trong việc xác định trách nhiệm hoàn trả.
- Luật TNBTCNN và các văn bản hướng dẫn thi hành chưa quy định trong trường hợp có công chức liên quan đến việc thực hiện hành vi vi phạm đã nghỉ hưu, theo quy định tại khoản 1 Điều 26 Nghị định số 68/2018/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật TNBTCNN (Nghị định số 68) thì trường hợp này có được xem là “đã nghỉ việc tại cơ quan nhà nước” có thuộc quy định trên không? Lương của người thi hành công vụ gây thiệt hại để xác định mức hoàn trả theo quy định tại khoản 2, 3 Điều 26 Nghị định số 68 trong trường hợp này có được xác định là lương của công chức thực hiện hành vi vi phạm tại thời điểm trước khi nghỉ hưu hay không? Do vậy, cần có quy định rõ ràng để áp dụng được thống nhất.
- Luật TNBTCNN và các văn bản hướng dẫn thi hành chưa quy định việc thực hiện trách nhiệm hoàn trả trong trường hợp người thi hành công vụ có hành vi vi phạm đã chết trước thời điểm thành lập Hội đồng xem xét trách nhiệm hoàn trả (đặc biệt trong trường hợp có nhiều người thi hành công vụ cùng gây thiệt hại), dẫn đến khó khăn trong việc xác định trách nhiệm hoàn trả đối với những người còn lại. Trường hợp vẫn xem xét trách nhiệm hoàn trả cùa người đó thì lương để xác định mức hoàn trả đối với trường hợp này là lương tại thời điểm nào và hiệu lực của Quyết định hoàn trả được xác định như thế nào thì Luật cũng chưa quy định.
III. Định hướng hoàn thiện quy định về trách nhiệm hoàn trả trong dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước
Từ những khó khăn, hạn chế trong tổ chức thi hành Luật và vướng mắc, bất cập trong quy định của Luật TNBTCNN, các văn bản hướng dẫn thi hành nêu trên, dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều Luật TNBTCNN đã dự kiến sửa đổi, bổ sung một số quy định về xem xét trách nhiệm hoàn trả nhằm khắc phục những khó khăn, vướng mắc trong thực tiễn như:
Thứ nhất, dự thảo Luật dự kiến bổ sung thêm trường hợp được giảm mức hoàn trả khi người thi hành công vụ gây thiệt hại thực hiện đề xuất về đổi mới, sáng tạo theo đúng chủ trương, phương án đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt, không vụ lợi, mang lại hiệu quả kinh tế - xã hội và đã chủ động báo cáo, phòng ngừa, khắc phục tối đa hậu quả.
Thứ hai, dự thảo Luật dự kiến bổ sung quy định về miễn trách nhiệm hoàn trả đối với người thi hành công vụ thuộc trường hợp có lỗi vô ý đồng thời thuộc một trong các trường hợp sau: thực hiện đề xuất về đổi mới, sáng tạo theo đúng chủ trương, phương án đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt, không vụ lợi, mang lại hiệu quả kinh tế - xã hội và đã chủ động báo cáo, phòng ngừa, khắc phục tối đa hậu quả; mắc bệnh hiểm nghèo có xác nhận của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh theo quy định của pháp luật; lâm vào hoàn cảnh kinh tế đặc biệt khó khăn kéo dài do thiên tai, hỏa hoạn, tai nạn; lập công lớn được người, cơ quan có thẩm quyền xác nhận.
Thứ ba, dự thảo Luật dự kiến bổ sung quy định về thẩm quyền của Hội đồng xem xét trách nhiệm hoàn trả trong việc xem xét trách nhiệm hoàn trả đối với trường hợp không xác định được đầy đủ các thông tin về người thi hành công vụ gây thiệt hại, mức độ lỗi của người thi hành công vụ gây thiệt hại, trách nhiệm hoàn trả, mức hoàn trả của từng người.
Thứ tư, một số quy định liên quan đến trách nhiệm hoàn trả sẽ được quy định chi tiết tại dự thảo Nghị định thay thế Nghị định số 68/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018 của Chính phủ quy định chi tiết một số điểu và biện pháp thi hành Luật Trách nhiệm bồi thương của nhà nước./.