NHỮNG ĐIỂM MỚI CƠ BẢN CỦA LUẬT SỬA ĐỔI, BỔ SUNG MỘT SỐ ĐIỀU CỦA LUẬT TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG CỦA NHÀ NƯỚC
24/08/2026
Ngày 23/8/2026, tại Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI đã thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước (TNBTCNN) - có hiệu lực thi hành từ ngày 01/3/2027.
Luật sửa đổi, bổ sung 36 điều và bãi bỏ 02 điều trên tổng số 78 điều của Luật TNBTCNN năm 2017, bố cục gồm 03 điều: Điều 1 sửa đổi, bổ sung Luật TNBTCNN; Điều 2 sửa đổi, bổ sung một số điều của luật có liên quan; Điều 3 quy định điều khoản thi hành. Những điểm mới của Luật tập trung ở 08 nhóm nội dung sau:
1. Về nguyên tắc áp dụng pháp luật
Điểm mới mang tính nền tảng nhất của lần sửa đổi này thể hiện ở nội dung sửa đổi, bổ sung khoản 1 Điều 4 của Luật TNBTCNN: “Việc bồi thường của Nhà nước được thực hiện theo quy định của Luật này, trừ trường hợp Quốc hội có quy định khác về phạm vi trách nhiệm bồi thường của Nhà nước trong các lĩnh vực quy định tại Điều 1 của Luật này”. Quy định này nhằm xác lập rõ nguyên tắc áp dụng pháp luật, bảo đảm tính linh hoạt, kịp thời trong xác định phạm vi TNBTCNN trước yêu cầu đổi mới quản trị quốc gia và thực tiễn phát sinh trong các lĩnh vực đặc thù. Theo đó, Luật TNBTCNN tiếp tục giữ vai trò là luật khung nhưng không “đóng khung” phạm vi TNBTCNN, tạo cơ chế để Quốc hội kịp thời quyết định vấn đề này tại luật chuyên ngành, hạn chế khoảng trống pháp lý và tránh tình trạng thường xuyên phải sửa đổi Luật TNBTCNN.
Bên cạnh đó, Luật sửa đổi khoản 2, khoản 4 Điều 4 và điểm c khoản 2 Điều 7 để bảo đảm sự công bằng, thống nhất trong cơ chế lựa chọn cơ quan giải quyết bồi thường của người yêu cầu bồi thường trong hoạt động tố tụng hình sự, bảo đảm tối đa quyền của cá nhân, tổ chức bị thiệt hại.
2. Về phạm vi TNBTCNN trong hoạt động quản lý hành chính
Để kịp thời thể chế hóa Quy định số 231-QĐ/TW ngày 17/01/2025 của Bộ Chính trị về bảo vệ người đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, Luật bổ sung quyền được Nhà nước bồi thường cho người đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực và người thân của họ khi cơ quan có thẩm quyền không áp dụng, áp dụng không kịp thời hoặc không đúng biện pháp bảo vệ gây thiệt hại (tại khoản 6 Điều 17 của Luật TNBTCNN), đồng thời, bổ sung giải thích từ ngữ tại Điều 3 và cơ quan giải quyết bồi thường tương ứng tại khoản 6 Điều 33 của Luật để đồng bộ với quy định bổ sung này. Đây là điểm mới nhân văn và đáp ứng yêu cầu chủ trương, đường lối của Đảng về tăng cường công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực.
Bên cạnh đó, Luật bổ sung một số hành vi làm phát sinh TNBTCNN trong hoạt động quản lý hành chính để khắc phục vướng mắc trong thực tiễn, như hành vi “hủy bỏ” giấy phép và các giấy tờ có giá trị như giấy phép (khoản 8 Điều 17), hành vi “không cấp” Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất trái pháp luật (khoản 11 Điều 17). Đồng thời, nhiều nội dung được chỉnh lý để bảo đảm thống nhất, đồng bộ với văn bản luật có liên quan: Luật Quản lý xử lý vi phạm hành chính, Luật Đất đai, Luật Tố tụng hành chính...
3. Về cơ quan giải quyết bồi thường
Các quy định về cơ quan giải quyết bồi thường được điều chỉnh đồng bộ với kết quả sắp xếp tổ chức bộ máy và mô hình chính quyền địa phương hai cấp. Theo đó, Điều 33 được thiết kế lại thành nhóm cơ quan giải quyết bồi thường ở trung ương và ở tỉnh, thành phố; trong đó xác định Cục và tương đương thuộc Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan trung ương được tổ chức theo hệ thống ngành dọc tại địa phương, có tư cách pháp nhân và tài khoản riêng, là cơ quan giải quyết bồi thường đối với người thi hành công vụ thuộc thẩm quyền quản lý trực tiếp.
Luật cũng cập nhật tên gọi các thiết chế cho thống nhất với pháp luật hiện hành, như: “Cơ quan thi hành án dân sự tỉnh, thành phố” tại khoản 1 Điều 39 theo Luật Thi hành án dân sự năm 2025, “Tòa án nhân dân khu vực” có thẩm quyền xét xử sơ thẩm yêu cầu bồi thường tại Điều 53 cho phù hợp với cơ cấu và thẩm quyền của Tòa án các cấp.
4. Về trình tự, thủ tục giải quyết yêu cầu bồi thường
Đây là nhóm nội dung được sửa đổi nhiều nhất, thể hiện sự nghiêm túc, quyết liệt trong việc thực hiện chủ trương cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính và đẩy mạnh chuyển đổi số. Về hồ sơ yêu cầu bồi thường, theo Điều 41 đã được sửa đổi, người yêu cầu bồi thường chỉ cần nộp văn bản yêu cầu bồi thường, còn văn bản làm căn cứ yêu cầu bồi thường sẽ do cơ quan giải quyết bồi thường tự cung cấp hoặc yêu cầu cơ quan nhà nước khác cung cấp. Người dân được lựa chọn gửi yêu cầu bồi thường qua nhiều hình thức phù hợp với khả năng, điều kiện thực tế: môi trường số, trực tiếp tại cơ quan hoặc Bộ phận Một cửa hoặc qua dịch vụ bưu chính.
Về thời gian giải quyết bồi thường, nhiều mốc được rút ngắn đáng kể: thời hạn kiểm tra tính đầy đủ của hồ sơ và thời hạn thụ lý, cử người giải quyết đều còn 02 ngày làm việc (Điều 42, Điều 43). Đồng thời, để bảo đảm chất lượng giải quyết đối với vụ việc phức tạp, thời gian xác minh thiệt hại và thời gian thương lượng được phép kéo dài theo thỏa thuận giữa các bên và không tính vào thời hạn giải quyết (Điều 45, Điều 46). Một điểm tiến bộ về bảo vệ quyền của người dân là bỏ nghĩa vụ chứng minh mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và thiệt hại - đây là trách nhiệm của cơ quan nhà nước; người yêu cầu bồi thường chỉ có nghĩa vụ phối hợp cung cấp thông tin, tài liệu (điểm c khoản 2 Điều 13).
Một điểm mới đáng chú ý là Luật quy định cơ quan giải quyết bồi thường ban hành quyết định giải quyết bồi thường kể cả trường hợp thương lượng không thành, thể hiện trách nhiệm “đến cùng” của cơ quan nhà nước đối với người yêu cầu bồi thường. Bên cạnh đó, Luật xác định rõ thương lượng là quyền của các bên chứ không phải thủ tục bắt buộc. Trường hợp người yêu cầu bồi thường không tham gia thương lượng sau khi đã được mời, cơ quan giải quyết bồi thường vẫn ban hành quyết định giải quyết bồi thường theo Điều 47 thay vì đình chỉ như trước. Luật cũng tăng mức tạm ứng kinh phí từ “không dưới 50%” lên “không dưới 75%” giá trị thiệt hại (Điều 44); kéo dài thời điểm có hiệu lực của quyết định giải quyết bồi thường và thời hạn khởi kiện ra Tòa án từ 15 ngày lên 60 ngày, đồng thời cho phép các bên thỏa thuận để quyết định có hiệu lực sớm hơn (Điều 47, Điều 52); bổ sung quyền rút yêu cầu trước khi quyết định có hiệu lực (Điều 51) và quyền đề nghị giám định thiệt hại (Điều 13, Điều 45). Các nội dung mang tính nghiệp vụ, kỹ thuật được giao Chính phủ quy định chi tiết để bảo đảm tính ổn định của Luật.
5. Về việc xem xét trách nhiệm hoàn trả của người thi hành công vụ
Cùng với việc giữ nguyên tắc buộc người thi hành công vụ có lỗi phải hoàn trả theo mức độ lỗi, Luật bổ sung cơ chế giảm mức hoàn trả, miễn trách nhiệm hoàn trả đối với cán bộ, công chức thực hiện đề xuất đổi mới, sáng tạo trong hoạt động công vụ để bảo đảm thể chế hóa đầy đủ chủ trương của Đảng và Nhà nước về khuyến khích và bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo vì lợi ích chung.
Theo đó, theo Điều 65 được sửa đổi, bổ sung, Thủ trưởng cơ quan trực tiếp quản lý người thi hành công vụ được quyết định giảm mức hoàn trả tối đa 30% khi người đó có lỗi vô ý và thuộc trường hợp thực hiện đề xuất đổi mới, sáng tạo đúng chủ trương đã được phê duyệt, không vụ lợi, đã chủ động khắc phục hậu quả, hoặc đã hoàn trả được ít nhất 50% số tiền phải hoàn trả (khoản 4). Đặc biệt, khoản 4a mới bổ sung cho phép miễn hoàn trả khi người thi hành công vụ có lỗi vô ý, chủ động khắc phục hậu quả và thuộc một trong các trường hợp: thực hiện đề xuất đổi mới, sáng tạo mang lại hiệu quả kinh tế - xã hội; mắc bệnh hiểm nghèo; lâm vào hoàn cảnh kinh tế đặc biệt khó khăn do thiên tai, hỏa hoạn, tai nạn; hoặc lập công lớn. Đây là những điểm mới tiến bộ, góp phần thúc đẩy tinh thần dám nghĩ, dám làm của đội ngũ cán bộ, công chức, đồng thời vẫn bảo đảm tính nghiêm minh và công bằng trong quá trình xem xét trách nhiệm khi vi phạm công vụ.
Luật cũng khắc phục vướng mắc thực tiễn khi bổ sung khoản 2a Điều 66: trường hợp Hội đồng xem xét trách nhiệm hoàn trả không xác định được đầy đủ các nội dung (người gây thiệt hại, mức độ lỗi, trách nhiệm và mức hoàn trả của từng người) thì kiến nghị Thủ trưởng cơ quan đã chi trả tiền bồi thường quyết định.
6. Về lập dự toán, quyết toán kinh phí bồi thường và chi trả tiền bồi thường
Các Điều 60, 61 và 62 của Luật đã được sửa đổi để khắc phục tình trạng bị động trong lập dự toán và rườm rà trong cấp phát kinh phí bồi thường. Điều 60 xác định rõ Nhà nước bảo đảm hai loại kinh phí: kinh phí cho công tác quản lý nhà nước về bồi thường nhà nước; và kinh phí chi trả cho người bị thiệt hại kèm chi phí định giá tài sản, giám định thiệt hại. Nguồn kinh phí được bố trí theo cấp ngân sách tương ứng với cơ quan (ngân sách trung ương hoặc ngân sách địa phương) nhằm phù hợp với pháp luật về ngân sách nhà nước. Việc bổ sung quy định về kinh phí cho hoạt động quản lý nhà nước là điểm mới quan trọng, đáp ứng yêu cầu đẩy mạnh quản lý nhà nước về công tác này nhằm mục tiêu cốt lõi là phòng ngừa hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ chứ không phải tập trung giải quyết vụ việc.
Điều 61 quy định hằng năm các cơ quan nhà nước lập dự toán kinh phí thực hiện công tác bồi thường theo pháp luật về ngân sách nhà nước; kết thúc năm ngân sách, cơ quan trực tiếp quản lý người thi hành công vụ và cơ quan quản lý nhà nước về công tác bồi thường có trách nhiệm quyết toán. Cách tiếp cận “cơ quan giải quyết ở cấp nào thì đề nghị cấp kinh phí ở cấp đó” giúp khắc phục bất cập khi không phải năm nào cũng phát sinh vụ việc. Điều 62 rút ngắn thủ tục chi trả tiền bồi thường: trong thời hạn 02 ngày làm việc kể từ khi quyết định (hoặc bản án, quyết định của Tòa án) có hiệu lực, cơ quan phải thông báo; trong 02 ngày làm việc tiếp theo phải thực hiện chi trả. Luật đồng thời bãi bỏ Điều 63 về trình tự cấp phát kinh phí không còn phù hợp.
7. Về quản lý nhà nước về công tác bồi thường nhà nước
Thực hiện định hướng tại Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới, Luật chỉ quy định những vấn đề khung, có tính nguyên tắc thuộc thẩm quyền Quốc hội, còn những nội dung thường xuyên biến động giao Chính phủ quy định, Điều 73 được thiết kế lại theo hướng tinh gọn. Luật xác định Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về công tác bồi thường nhà nước trong cả 03 lĩnh vực quản lý hành chính, tố tụng và thi hành án trên phạm vi cả nước; Bộ Tư pháp là cơ quan đầu mối giúp Chính phủ; Ủy ban nhân dân cấp tỉnh thực hiện quản lý nhà nước tại địa phương với các nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể.
Điểm mới đáng chú ý là việc luật hóa nhiệm vụ chỉ đạo thực hiện chuyển đổi số trong công tác bồi thường nhà nước và trách nhiệm định kỳ hằng năm báo cáo Quốc hội của Chính phủ. Ủy ban nhân dân cấp tỉnh được giao nhiều thẩm quyền thiết thực như hỗ trợ, hướng dẫn người bị thiệt hại thực hiện thủ tục yêu cầu bồi thường; kiến nghị xử lý vi phạm; kiến nghị kháng nghị bản án, quyết định có nội dung giải quyết bồi thường; yêu cầu hủy quyết định giải quyết bồi thường trái pháp luật. Nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể của các cơ quan và cơ chế phối hợp được giao Chính phủ quy định chi tiết; Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao phối hợp thực hiện (Điều 74).
8. Về điều khoản chuyển tiếp
Một trong những điểm mới giàu tính nhân văn của Luật là quy định về điều khoản chuyển tiếp tại khoản 2 Điều 3. Theo đó, đối với yêu cầu bồi thường đã được thụ lý trước ngày Luật có hiệu lực (01/3/2027) mà chưa hoặc đang giải quyết thì về nguyên tắc tiếp tục áp dụng Luật TNBTCNN năm 2017 để giải quyết, song kể từ ngày Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật TNBTCNN có hiệu lực (01/3/2027), đối với những công việc, thủ tục thì cơ quan giải quyết bồi thường áp dụng quy định có lợi hơn cho người yêu cầu bồi thường, người thi hành công vụ có trách nhiệm hoàn trả theo quy định của Luật này để giải quyết, trừ trường hợp người yêu cầu bồi thường, người thi hành công vụ có trách nhiệm hoàn trả đề nghị không áp dụng quy định đó.
Cách thiết kế quy định chuyển tiếp nêu trên giúp người yêu cầu bồi thường, người thi hành công vụ có trách nhiệm hoàn trả được thụ hưởng ngay những chính sách tiến bộ của Luật mới mà không chịu thiệt thòi chỉ vì vụ việc phát sinh trước thời điểm chuyển giao; đồng thời, việc xác định “từng công việc, thủ tục chưa có kết quả” thay cho “toàn bộ vụ việc” bảo đảm xử lý mềm dẻo các vụ việc kéo dài, dở dang và vẫn tôn trọng quyền tự định đoạt của các bên.
Với những điểm mới nêu trên, có thể khẳng định, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật TNBTCNN là bước hoàn thiện thể chế về TNBTCNN rất quan trọng. Luật được ban hành vừa kịp thời thể chế hóa chủ trương, đường lối của Đảng, thống nhất, đồng bộ với hệ thống pháp luật và bộ máy nhà nước sau sắp xếp, phù hợp với việc thực hiện mô hình chính quyền địa phương 02 cấp, vừa khắc phục được những khó khăn, vướng mắc đã được đánh giá, nhận diện rõ trong thực tiễn. Trên hết, tất cả các nội dung sửa đổi, bổ sung đều hướng tới một mục đích cao cả và duy nhất là bảo đảm tốt hơn quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức, đồng thời nâng cao chất lượng thi hành công vụ./.