Sửa đổi, bổ sung Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước để thể chế hóa quy định của Đảng góp phần bảo đảm quyền lợi của người đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực
18/08/2026
I. Đặt vấn đề
Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng đã đặt ra yêu cầu phải đẩy mạnh xây dựng, hoàn thiện các quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước về đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực cũng như cơ chế bảo vệ, khuyến khích những cá nhân phát hiện, tích cực đấu tranh chống tham nhũng, tiêu cực[1]. Chính vì vậy, thời gian qua, Đảng ta đã ban hành nhiều văn bản để lãnh đạo, chỉ đạo, hướng dẫn về công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, như: Quy định 191-QĐ/TW ngày 29/10/2024 quy định về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, chế độ làm việc, quan hệ công tác của Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực; Chỉ thị 27-CT/TW ngày 25/12/2023 quy định về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác thực hành tiết kiệm, chống lãng phí; Quy định số 231/QĐ-TW ngày 17/01/2025 về bảo vệ người đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực; Chỉ thị số 43-CT/TW ngày 10/4/2025 của Bộ Chính trị về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác thể chế hóa chủ trương, đường lối của Đảng về phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực thành pháp luật của Nhà nước; Hướng dẫn 63-HD/BCĐTW ngày 28/4/2025 của Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực hướng dẫn một số nội dung trọng tâm về công tác phòng, chống lãng phí... Các văn bản này là cơ sở chính trị xuyên suốt, giữ vai trò định hướng đối với quá trình xây dựng, hoàn thiện và tổ chức thực hiện pháp luật trong công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, đồng thời thể hiện rõ tư duy đổi mới, quyết tâm chính trị cao đối với công tác này.
Bên cạnh đó, hệ thống văn bản quy phạm pháp luật đã từng bước hoàn thiện nhằm tạo cơ sở pháp lý chặt chẽ để thực hiện hiệu quả công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực. Hiện nay, một số Bộ luật, Luật có quy định liên quan đến việc bảo vệ những người có hành vi đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực như: Bộ luật Tố tụng dân sự; Bộ luật Tố tụng hình sự; Luật Tố cáo; Luật Phòng, chống tham nhũng; Luật Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí... đã có một số quy định về biện pháp bảo vệ người đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, thẩm quyền áp dụng biện pháp bảo vệ, quyền của người được bảo vệ khi người, cơ quan có thẩm quyền thực hiện không đúng quy định của pháp luật trong việc áp dụng biện pháp bảo vệ gây thiệt hại cho họ… Các quy định này nhằm khích lệ tinh thần góp ý, phê bình, phát hiện, tố giác, đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực của Nhân dân.
Tuy nhiên, bên cạnh việc tạo cơ sở pháp lý để bảo vệ người đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực khi có nguy cơ bị đe dọa, trả thù do thực hiện các hành vi đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực thì cần thiết xác lập cho họ quyền được yêu cầu Nhà nước bồi thường khi người, cơ quan có thẩm quyền không áp dụng các biện pháp bảo vệ hoặc áp dụng không kịp thời gây thiệt hại cho họ hoặc người thân. Điều này thể hiện sự trách nhiệm, thiện chí của cơ quan nhà nước khi cán bộ, công chức của mình có hành vi trái pháp luật và nhằm bảo đảm tốt hơn quyền lợi của người đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực và người thân của họ khi bị thiệt hại. Đây cũng là chủ trương của Đảng ta tại Quy định số 231/QĐ-TW ngày 17/01/2025 về bảo vệ người đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực (Quy định số 231-QĐ/TW).
I. Quy định pháp luật hiện hành về trách nhiệm bồi thường của Nhà nước đối với người đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực
Điều 2 Quy định số 231-QĐ/TW giải thích khái niệm: “Người đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực là cá nhân thực hiện việc phản ánh, tối cáo, tố giác hành vi tham nhũng, lãng phí, tiêu cực của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong thực hiện nhiệm vụ, công vụ được giao, trong quản lý, sử dụng tài chính công, tài sản công” (khoản 1) và “Người thân của người đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực được bảo vệ gồm: Vợ (chồng), cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi” (khoản 2). Đồng thời, điểm 1.3 khoản 1 Điều 5 Quy định số 231- QĐ/TW quy định người đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực “Được bồi thường theo quy định của pháp luật về trách nhiệm bồi thường của Nhà nước khi cơ quan có thẩm quyền không áp dụng biện pháp bảo vệ hoặc áp dụng không kịp thời gây thiệt hại về tính mạng, sức khoẻ, tài sản, tinh thần của người đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực hoặc người thân”.
Theo đó, có thể hiểu rằng, đối tượng được Nhà nước bồi thường theo Quy định số 231-QĐ/TW là những cá nhân thực hiện 03 loại hành vi: phản ánh, tố cáo, tố giác đối với 03 nhóm vấn đề: tham nhũng, lãng phí, tiêu cực và người thân của họ. Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước phát sinh khi những đối tượng này bị thiệt hại về tính mạng, sức khoẻ, tài sản, tinh thần bởi hành vi không áp dụng hoặc áp dụng không kịp thời biện pháp bảo vệ họ theo quy định của pháp luật và có yêu cầu Nhà nước bồi thường.
Hiện nay, qua nghiên cứu, rà soát thấy rằng có 03 Luật hiện hành có nội dung quy định về các trường hợp được cơ quan có thẩm quyền áp dụng biện pháp bảo vệ trong đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, gồm: Luật Tố cáo; Luật Phòng, chống tham nhũng; Luật Tiết kiệm, chống lãng phí. Trong đó, có luật đã đầy đủ các quy định về đối tượng được áp dụng biện pháp bảo vệ, các biện pháp bảo vệ, quyền, nghĩa vụ của người đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực và trách nhiệm của Nhà nước khi không áp dụng hoặc áp dụng không kịp thời biện pháp bảo vệ gây thiệt hại cho người đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực hoặc người thân (là đối tượng được áp dụng biện pháp bảo vệ), có luật chưa quy định đầy đủ, cần nghiên cứu để hoàn thiện nhằm thể chế hóa Quy định số 231/QĐ-TW.
1. Đối với các nội dung liên quan đến đấu tranh chống tham nhũng
Đối với hành vi đấu tranh chống tham nhũng, cụ thể là hành vi phản ánh, tố cáo, tố giác hành vi tham nhũng, Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018 (được sửa đổi, bổ sung năm 2025) đã có một số quy định về: Quyền và nghĩa vụ của công dân trong phòng, chống tham nhũng: "Công dân có quyền phát hiện, phản ánh, tố cáo, tố giác, báo tin về hành vi tham nhũng, và được bảo vệ, khen thưởng theo quy định của pháp luật; có quyền kiến nghị với cơ quan nhà nước hoàn thiện pháp luật về phòng, chống tham nhũng và giám sát việc thực hiện pháp luật về phòng, chống tham nhũng" (khoản 1 Điều 5); Bảo vệ người phản ánh, tố cáo, báo cáo về hành vi tham nhũng: “Cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân có thẩm quyền khi nhận được phản ánh, tố cáo về hành vi tham nhũng phải xem xét, xử lý kịp thời và áp dụng các biện pháp bảo vệ người phản ánh, tố cáo” (Khoản 2 Điều 65), “Việc bảo vệ người tố cáo hành vi tham nhũng được thực hiện theo quy định của pháp luật về tố cáo; Người phản ánh, báo cáo về hành vi tham nhũng được áp dụng các biện pháp bảo vệ như bảo vệ người tố cáo” (khoản 1, 2 Điều 67). Tuy nhiên, Luật phòng, chống tham nhũng hiện nay chưa có quy định về quyền được áp dụng biện pháp bảo vệ đối với người thân của người tố cáo, người phản ánh về hành vi tham nhũng; quyền được bồi thường thiệt hại theo pháp luật về TNBTCNN của người đấu tranh chống tham nhũng và người thân.
Bên cạnh đó, Luật này cũng chưa có quy định về phạm vi bảo vệ, thẩm quyền, trình tự thủ tục áp dụng biện pháp bảo vệ “người tố giác hành vi tham nhũng” và quyền được bồi thường thiệt hại của đối tượng này. Tuy nhiên, theo quy định tại Điều 484 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025), người tố giác tội phạm nói chung và người thân thích của họ có quyền được “bồi thường thiệt hại, khôi phục danh dự, bảo đảm các quyền và lợi ích hợp pháp trong thời gian bảo vệ”, do đó, có thể áp dụng quy định này của Bộ luật Tố tụng hình sự để bảo vệ người tố giác hành vi tham nhũng.
2. Đối với các nội dung liên quan đến đấu tranh chống lãng phí
Luật Tiết kiệm, chống lãng phí năm 2025 hiện nay là luật chuyên ngành quy định về quyền, nghĩa vụ của cá nhân có hành vi đấu tranh chống lãng phí và trách nhiệm của cơ quan có thẩm quyền trong việc bảo vệ họ. Luật này thay thế Luật Thực hành Tiết kiệm, chống lãng phí năm 2013, đã kịp thời sửa đổi, bổ sung các quy định để thể chế hóa Quy định 231-QĐ/TW như: quy định giải thích từ ngữ về “người đấu tranh chống lãng phí”, “người thân của người đấu tranh chống lãng phí” (khoản 5, 6 Điều 3); quy định về hành vi vi phạm trong bảo vệ người đấu tranh chống lãng phí, người thân của người đấu tranh chống lãng phí (điểm i khoản 1 Điều 5); quy định về phạm vi bảo vệ, cơ quan có thẩm quyền áp dụng biện pháp bảo vệ, trình tự, thủ tục và các biện pháp bảo vệ theo hướng dẫn chiếu sang pháp luật về tố cáo và pháp luật về tố tụng hình sự, cụ thể: đối với người tố cáo hành vi gây lãng phí được thực hiện theo quy định của pháp luật về tố cáo, đối với người tố giác tội phạm về hành vi gây lãng phí được thực hiện theo quy định của pháp luật về tố tụng hình sự, đối với người phản ánh về hành vi gây lãng phí được áp dụng các quy định về bảo vệ như bảo vệ người tố cáo (khoản 3 Điều 8); quy định về những hành vi bị nghiêm cấm trong bảo vệ người đấu tranh chống lãng phí (khoản 5 Điều 8). Đặc biệt, Luật này đã quy định người đấu tranh chống lãng phí có quyền “Được bồi thường theo quy định của pháp luật khi cơ quan có thẩm quyền không áp dụng biện pháp bảo vệ hoặc áp dụng không kịp thời gây thiệt hại về tính mạng, sức khoẻ, tài sản, tinh thần của người đấu tranh chống lãng phí hoặc người thân” (điểm d khoản 1 Điều 8).
Có thể nói, về cơ bản, Luật Tiết kiệm, chống lãng phí đã có các quy định mang tính nguyên tắc, làm cơ sở cho người đấu tranh chống lãng phí và người thân thực hiện quyền yêu cầu Nhà nước bồi thường khi bị thiệt hại trong trường hợp người, cơ quan có thẩm quyền không áp dụng hoặc áp dụng không kịp thời biện pháp bảo vệ họ.
3. Đối với các nội dung liên quan đến đấu tranh chống tiêu cực
Về thuật ngữ “tiêu cực”, “hành vi chống tiêu cực”, hiện nay chưa xác định được văn bản nào giải thích rõ ràng, cụ thể. Đối với văn bản của Đảng, Hướng dẫn số 25-HD/BCĐTW ngày 01/8/2022 của Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực (Hướng dẫn số 25) có nêu:“Tiêu cực của của cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức là những hành vi trái với Điều lệ, Cương lĩnh, nghị quyết, quy chế, quy định, chỉ thị, kết luận,... của Đảng (gọi chung là chủ trương, đường lối, quy định của Đảng), pháp luật của Nhà nước, Điều lệ của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội và các tổ chức Hội do Đảng, Nhà nước giao nhiệm vụ; các chuẩn mực đạo đức, quy tắc ứng xử, truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc, gây ảnh hưởng xấu đến uy tín của Đảng, Nhà nước, làm tha hóa đội ngũ cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức, làm giảm sút niềm tin của nhân dân, cản trở quá trình phát triển kinh tế - xã hội. ...” (mục 1 phần I Hướng dẫn số 25); đồng thời, tại mục III Hướng dẫn số 25 đã quy định cụ thể 19 nhóm hành vi tiêu cực cần tập trung chỉ đạo phòng, chống. Trong quá trình tổ chức thực hiện 25-HD/BCĐTW, Ban Nội chính trung ương đã rà soát và thấy rằng, các nhóm hành vi vi phạm chủ yếu là: (1) Vi phạm những điều đảng viên không được làm và trách nhiệm nêu gương; (2) Vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ và quy chế làm việc; mất đoàn kết nội bộ; (3) Thiếu trách nhiệm, buông lỏng quản lý; (4) Vi phạm trong công tác cán bộ, chạy chức, chạy quyền; (5) Kê khai tài sản, thu nhập không trung thực; (6) Nhũng nhiễu, vòi vĩnh, gây phiền hà cho người dân, doanh nghiệp; (7) Vi phạm các quy định về quản lý tài chính, ngân hàng, đầu tư, xây dựng cơ bản…; (8) Vi phạm các quy định về quản lý đất đai, tài nguyên, khoáng sản…; (9) Tham ô, tham nhũng, lợi dụng chức vụ, quyền hạn được giao để dung túng, bao che, tiếp tay cho tham nhũng, tiêu cực; sử dụng quyền lực được giao để phục vụ lợi ích cá nhân hoặc để người thân, người quen lợi dụng chức vụ, quyền hạn của mình để trục lợi; (10) Cấu kết với doanh nghiệp, đối tượng khác để trục lợi; “lợi ích nhóm”;…
Đối với văn bản quy phạm pháp luật, qua rà soát thấy rằng một số luật hiện hành có nhắc đến thuật ngữ “tiêu cực” như: Luật Cán bộ công chức năm 2025, Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025, Luật Báo chí năm 2025, Luật Đất đai năm 2024… tuy nhiên không có văn bản nào giải thích các thuật ngữ này. Qua đó, có thể hiểu rằng thuật ngữ “tiêu cực” là một phạm trù chính trị - xã hội, được sử dụng phổ biến, rộng rãi mà không cần phải có văn bản quy phạm pháp luật nào giải thích. Việc đề cập đến thuật ngữ này trong các văn bản nêu trên cũng tương tự như một số cụm từ phản ánh những hiện tượng xã hội mang tính chính trị - xã hội cũng đã được quy định trong các luật mà không cần xác định nội hàm cụ thể (ví dụ cụm từ “tệ nạn xã hội” được sử dụng tại Luật Phòng, chống ma túy năm 2025, Luật Phòng, chống bạo lực gia đình năm 2022, Luật Thanh niên năm 2020; cụm từ “trật tự, an toàn xã hội”; “an ninh, trật tự” được sử dụng tại Bộ luật Dân sự, Luật Xử lý vi phạm hành chính, Luật Phòng, chống ma túy 2025; Luật Trật tự, an toàn giao thông đường bộ năm 2024; Luật An ninh mạng năm 2025…).
Trên cơ sở Hướng dẫn số 25 và Quy định số 231-QĐ/TW, hành vi chống tiêu cực bản chất là việc phản ánh, tố cáo, tố giác việc không thực hiện, thực hiện không đúng, không đầy đủ, không chấp hành hoặc chấp hành không đầy đủ các quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước. Theo đó, tương tự như người thực hiện phản ánh, tố cáo, tố giác hành vi tham nhũng, lãng phí, người đấu tranh chống tiêu cực và người thân chỉ được áp dụng biện pháp bảo vệ khi hành vi đó được thực hiện tuân thủ đúng các quy định của pháp luật hiện hành về hình thức (thông qua ba hình thức: tố cáo, tố giác, phản ánh, về quy trình, thủ tục thực hiện hành vi đấu tranh chống tiêu cực (theo Luật Tố cáo, Luật Tiếp công dân nếu thực hiện theo hình thức tố cáo, phản ánh; theo Bộ luật Tố tụng hình sự nếu thực hiện theo hình thức tố giác), về biện pháp bảo vệ (được áp dụng các biện pháp bảo vệ theo các luật tương ứng với hành vi thực hiện, chẳng hạn như: Nếu thực hiện theo hình thức tố cáo thì được áp dụng các biện pháp bảo vệ từ Điều 56 đến Điều 58 của Luật Tố cáo, nếu thực hiện theo hình thức tố giác thì được áp dụng biện pháp bảo vệ quy định tại Điều 486 Bộ luật Tố tụng hình sự…
Hiện nay, Luật TNBTCNN năm 2017 chỉ mới quy định Nhà nước có trách nhiệm bồi thường trong trường hợp không áp dụng hoặc áp dụng không đúng quy định của Luật Tố cáo một số biện pháp để bảo vệ người tố cáo khi người đó yêu cầu (khoản 6 Điều 17). Như vậy, trường hợp người tố cáo nói chung, người tố cáo đối với hành vi tham nhũng, lãng phí, tiêu cực nói riêng bị thiệt hại do người thi hành công vụ không áp dụng, áp dụng không đúng quy định của Luật Tố cáo các biện pháp bảo vệ họ thì họ được quyền yêu cầu Nhà nước bồi thường theo quy định của pháp luật về TNBTCNN. Tuy nhiên, Luật TNBTCNN hiện nay chưa có quy định về trách nhiệm bồi thường của Nhà nước đối với người phản ánh, tố giác hành vi tham nhũng, lãng phí, tiêu cực khi Nhà nước không áp dụng hoặc áp dụng không kịp thời biện pháp bảo vệ gây thiệt hại cho họ và người thân của họ.
II. Yêu cầu đặt ra về hoàn thiện pháp luật về trách nhiệm bồi thường của Nhà nước để bảo đảm quyền lợi của người đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực
1. Yêu cầu đặt ra
Để tổ chức thực hiện Quy định số 231/QĐ-TW, Bộ Chính trị đã giao: “Đảng ủy Quốc hội, Đảng ủy Chính phủ chỉ đạo rà soát, sửa đổi, bổ sung, ban hành các văn bản pháp luật liên quan đến bảo vệ người đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực bảo đảm đồng bộ, thống nhất với Quy định này” (khoản 2 Điều 11). Trên cơ sở đó, Đảng ủy Chính phủ đã lần lượt có các văn bản: Công văn số 200-CV/ĐU ngày 12/5/2025 về việc quán triệt, tổ chức thực hiện Quy định số 231-QĐ/TW (Công văn số 200-CV/ĐU), trong đó giao“Đảng ủy Bộ Tư pháp chủ trì, phối hợp với Đảng ủy Bộ Tài chính và các cơ quan liên quan nghiên cứu, đề xuất với cấp có thẩm quyền sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành các quy định về bồi thường thiệt hại cho người đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực hoặc người thân cho phù hợp với các quy định hiện hành và thực tiễn hiện nay” (mục 2b); Công văn số 67-CV/ĐU ngày 07/11/2025 về việc quán triệt, tổ chức thực hiện Quy định số 231-QĐ/TW, trong đó đã nêu trách nhiệm của một số Bộ, ngành trong việc nghiên cứu, đề xuất sửa đổi, bổ sung các Bộ luật, Luật có liên quan. Qua đó có thể thấy rằng, trách nhiệm thể chế hóa quy định về quyền được Nhà nước bồi thường của người đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực tại Quy định số 231-QĐ/TW là trách nhiệm chung của các Bộ, ngành, trong đó có Bộ Tư pháp - là cơ quan đầu mối giúp Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước về công tác bồi thường nhà nước trên phạm vi cả nước.
Qua nghiên cứu, rà soát cho thấy, để thể chế hóa đầy đủ quy định nêu trên, các Bộ luật, Luật có liên quan cần sửa đổi, bổ sung đầy đủ, toàn diện nhiều nội dung như: quyền được áp dụng biện pháp bảo vệ đối với người đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực và người thân; trách nhiệm của người đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực; trách nhiệm cùa người, cơ quan có thẩm quyền khi áp dụng biện pháp bảo vệ; các biện pháp bảo vệ người đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực và người thân; quyền được Nhà nước bồi thường theo quy định của pháp luật về TNBTCNN khi không áp dụng hoặc áp dụng không kịp thời biện pháp bảo vệ gây thiệt hại cho người đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực hoặc người thân… Trong đó, nội dung về quyền được Nhà nước bồi thường theo pháp luật về TNBTCNN là nội dung cốt lõi quan trọng, như “kim chỉ nam” để người đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực và người thân có thể thực hiện thủ tục yêu cầu Nhà nước bồi thường theo quy định của Luật TNBTCNN khi bị thiệt hại.
Như đã phân tích ở phần II, Luật Phòng, chống tham nhũng hiện nay chưa có quy định về quyền được bồi thường thiệt hại theo pháp luật về TNBTCNN của công dân trong phòng, chống tham nhũng. Mặt khác, Luật TNBTCNN năm 2017 cũng chưa có quy định về trách nhiệm bồi thường của Nhà nước đối với người phản ánh, tố giác hành vi tham nhũng, lãng phí, tiêu cực khi Nhà nước không áp dụng hoặc áp dụng không kịp thời biện pháp bảo vệ gây thiệt hại cho họ và người thân của họ.
2. Định hướng sửa đổi, bổ sung Luật TNBTCNN của Nhà nước để cụ thể hóa quyền được Nhà nước bồi thường của người đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực
Một là, bổ sung giải thích đối với các thuật ngữ: “người đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực”; “người thân của người đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực” tại Điều 3 về giải thích từ ngữ. Hiện nay, các thuật ngữ này đang được quy định tại Quy định số 231-QĐ/TW, chưa được quy định tại một văn bản quy phạm pháp luật nào, do đó Luật TNBTCNN cần thiết bổ sung quy định giải thích đối với các thuật ngữ này để bảo đảm thể chế hóa đúng, đầy đủ quy định của Đảng.
Hai là, sửa đổi, bổ sung phạm vi trách nhiệm bồi thường của Nhà nước trong hoạt động quản lý hành chính tại khoản 6 Điều 17 theo hướng bổ sung hành vi không áp dụng hoặc áp dụng không kịp thời biện pháp bảo vệ người đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực và người thân theo quy định của pháp luật mà gây thiệt hại thì Nhà nước phải bồi thường. Quy định này bảo đảm phù hợp với quy định về quyền của người đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực tại điểm 1.3 khoản 1 Điều 5 Quy định số 231-QĐ/TW.
Ba là, sửa đổi, bổ sung cơ quan giải quyết bồi thường trong hoạt động quản lý hành chính tại Điều 33 Luật TNBTCNN theo hướng bổ sung cơ quan có thẩm quyền áp dụng biện pháp bảo vệ người đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực và người thân theo quy định của pháp luật là cơ quan giải quyết bồi thường để phù hợp với việc sửa đổi, bổ sung phạm vi trách nhiệm bồi thường của Nhà nước tại khoản 6 Điều 17 dự thảo Luật. Về các cơ quan có thẩm quyền cụ thể, Bộ luật Tố tụng hình sự, Luật Tố cáo, Luật Tiết kiệm, chống lãng phí đã quy định, theo đó, việc sửa đổi, bổ sung quy định này tại Luật TNBTCNN nhằm bảo đảm sự thống nhất, đồng bộ trong hệ thống pháp luật và của Luật TNBTCNN.
[1] Nghị quyết Đại hội XIII yêu cầu phải “…Nâng cao vai trò, phát huy tính tích cực, chủ động và phối hợp của Mặt trận Tổ quốc, tổ chức chính trị - xã hội, nhân dân, doanh nghiệp, báo chí trong phát hiện, đấu tranh phòng, chống tham nhũng, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí. Có cơ chế khuyến khích và bảo vệ người tố cáo hành vi tham nhũng, lãng phí”; “Đẩy mạnh xây dựng, hoàn thiện các quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước, … cơ chế bảo vệ, khuyến khích những người làm công tác kiểm tra, giám sát, phát hiện, xử lý tham nhũng cũng như với người tố cáo, tích cực đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí…”.