TÍNH CHẤT BẢO ĐẢM CỦA TÀI TRỢ VỐN DỰA TRÊN GIÁ TRỊ KHOẢN PHẢI THU VÀ MỘT SỐ GỢI MỞ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT
22/08/2026
1. Tính chất bảo đảm của tài trợ vốn dựa trên giá trị khoản phải thu
Tài trợ vốn dựa trên giá trị khoản phải thu là hình thức cung ứng vốn căn cứ vào khoản tiền thu được từ các khoản phải thu của khách hàng (bên đươc cung ứng vốn)[1]. Trong cơ chế cấp vốn này, yếu tố ảnh hưởng đến việc xác lập quan hệ tín dụng là khả năng thu hồi khoản nợ theo hợp đồng của khách hàng được tài trợ vốn[2]. Chính vì vậy, để bảo vệ khoản vốn đã đầu tư, thông thường, bên cung ứng vốn sẽ thỏa thuận với khách hàng xác lập cơ chế bảo đảm khả năng thanh toán thông qua việc sử dụng trực tiếp dòng tiền thu được từ khoản phải thu để trả nợ khoản vốn mà bên tài trợ đã ứng trước theo hình thức đối trừ giữa dư nợ cho vay và giá trị khoản phải thu. Tính chất bảo đảm của tài trợ vốn dựa trên giá trị khoản phải thu thể hiện ở việc, lợi ích của bên cấp vốn được bảo đảm bằng dòng tiền thu về của bên được cấp vốn. Theo đó, trong quan hệ cấp vốn này, bên được cấp vốn sử dụng dòng tiền (từ các hóa đơn chưa thu tiền từ khách hàng của mình) để hoàn trả khoản tiền được bên cấp vốn ứng trước để kinh doanh, mua bán hàng hóa. Trên phương diện đó, có thể nói, tài trợ vốn dựa trên giá trị khoản phải thu là một dạng thức đặc biệt của hoạt động cho vay có bảo đảm bằng tài sản hình thành từ vốn vay.
Về nội hàm, khác với cơ chế cho vay có bảo đảm bằng thế chấp khoản phải thu trao cho bên nhận thế chấp quyền nhận chính khoản phải thu hoặc chuyển nhượng khoản phải thu cho bên thứ ba để thu về khoản tiền thanh toán cho giá trị nghĩa vụ bị vi phạm, trong tài trợ vốn dựa trên giá trị khoản phải thu, hợp đồng chuyển giao khoản phải thu trao cho bên nhận chuyển giao quyền được nhận số tiền trực tiếp từ khoản phải thu mà không phụ thuộc và căn cứ vào sự kiện vi phạm nghĩa vụ thanh toán của bên được tài trợ vốn.
Dưới giác độ nghiệp vụ kinh doanh, tài trợ vốn dựa trên giá trị khoản phải thu có sự kết hợp giữa hai sản phẩm dịch vụ, đó là hoạt động cung ứng vốn và hoạt động thu hồi nợ từ khoản phải thu của khách hàng[3]. Trong đó, hoạt động thu hồi nợ từ khoản phải thu gắn liền và được thực hiện dựa trên cơ chế chuyển giao khoản phải thu từ khách hàng sang cho bên tài trợ vốn mà về pháp lý, căn cứ cho việc thực thi cơ chế này đó chính là hợp đồng chuyển giao khoản phải thu, hay còn gọi là hợp đồng mua lại khoản phải thu.
2. Tiếp cận của pháp luật thực định về tài trợ vốn dựa trên giá trị khoản phải thu
2.1. Cơ chế bảo đảm cho việc thực hiện nghĩa vụ thanh toán trong tài trợ vốn dựa trên giá trị khoản phải thu
Tài trợ vốn dựa trên giá trị khoản phải thu mà hình thức pháp lý của nó là hợp đồng chuyển giao khoản phải thu không phải là một trong các biện pháp bảo đảm theo tiếp cận của Điều 292 Bộ luật Dân sự năm 2015. Chính vì vậy, mặc dù mang bản chất bảo đảm cho việc thực hiện nghĩa vụ thanh toán của bên được cấp vốn, nhưng cơ chế bảo đảm trong tài trợ vốn dựa trên giá trị khoản phải thu được thực hiện theo nguyên tắc của pháp luật hợp đồng. Và vì vậy, trong cơ chế tài trợ vốn này, căn cứ pháp lý bảo đảm cho việc thực hiện nghĩa vụ thanh toán của bên được cấp vốn là hợp đồng chuyển giao khoản phải thu mà không phải là biện pháp bảo đảm.
Theo Điều 223 Bộ luật Dân sự năm 2015, hợp đồng chuyển giao khoản phải thu là căn cứ xác lập quyền sở hữu tài sản (là khoản phải thu) của bên tài trợ vốn. Trên cơ sở hợp đồng chuyển giao khoản phải thu, bên tài trợ vốn sẽ thực thi quyền đòi nợ từ khoản phải thu của khách hàng với tư cách là quyền của chủ sở hữu, hay nói cách khác, là quyền của chủ nợ mới (phát sinh từ thỏa thuận trong hợp đồng chuyển giao khoản phải thu), mà không phải là quyền của bên nhận bảo đảm phát sinh từ việc xác lập biện pháp bảo đảm. Như vậy, hợp đồng chuyển giao khoản phải thu là căn cứ để bên tài trợ vốn thay thế vị trí pháp lý của bên được cung ứng vốn thực hiện việc thu hồi nợ từ khoản phải thu khi đến hạn thanh toán mà không phải là kết quả xử lý tài sản bảo đảm do có hành vi vi phạm nghĩa vụ thanh toán của bên được cung ứng vốn theo Điều 299 Bộ luật Dân sự năm 2015. Chính vì vậy, mặc dù không phải là biện pháp bảo đảm theo tiếp cận của Điều 292 Bộ luật Dân sự năm 2015 nhưng hợp đồng mua lại khoản phải thu có giá trị và chức năng bảo đảm cho việc thực hiện nghĩa vụ thanh toán. Và về bản chất, lợi ích của bên cho vay trong cơ chế tài trợ vốn này đã được bảo đảm bằng chính giá trị khoản phải thu, cho dù hợp đồng chuyển giao khoản phải thu không được tiếp cận là biện pháp bảo đảm theo Điều 292 Bộ luật Dân sự năm 2015.
2.2. Cơ chế đăng ký hợp đồng chuyển giao khoản phải thu
Trước đó, Chính phủ tại Nghị định số 163/2006/NĐ-CP ngày 29/12/2006 về giao dịch bảo đảm[4] đã nhận diện đăng ký hợp đồng chuyển giao quyền đòi nợ (một dạng thức của hợp đồng chuyển giao khoản phải thu) dưới giác độ đăng ký giao dịch bảo đảm và đã xây dựng quy tắc phân định quyền ưu tiên giữa bên có quyền trong hợp đồng chuyển giao quyền đòi nợ (bên nhận chuyển giao quyền đòi nợ) và bên có quyền trong giao dịch bảo đảm (bên nhận bảo đảm) theo nguyên tắc công khai hóa quyền thông qua đăng ký. Theo khoản 4 Điều 22 Nghị định số 163/2006/NĐ-CP, “Trong trường hợp quyền đòi nợ được chuyển giao theo quy định tại Điều 309 Bộ luật Dân sự thì thứ tự ưu tiên giữa bên nhận chuyển giao quyền đòi nợ và bên nhận thế chấp quyền đòi nợ được xác định theo thời điểm đăng ký các giao dịch đó tại cơ quan đăng ký giao dịch bảo đảm có thẩm quyền”. Trên cơ sở đó, Thông tư số 04/2007/TT-BTP ngày 17/5/2007 của Bộ Tư pháp đã quy định về thẩm quyền, trình tự và thủ tục đăng ký, cung cấp thông tin về hợp đồng chuyển giao quyền đòi nợ tại các Trung tâm đăng ký giao dịch, tài sản của Bộ Tư pháp.
Quy định về đăng ký hợp đồng chuyển giao khoản phải thu tiếp tục được kế thừa tại Thông tư số 08/2018/TT-BTP ngày 20/6/2018 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp (được sửa đổi, bổ sung bởi Thông tư số 06/2020/TT-BTP ngày 17/12/2020 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp). Theo Điều 5a Thông tư này, việc đăng ký hợp đồng chuyển giao quyền đòi nợ, khoản phải thu, quyền yêu cầu thanh toán khác được thực hiện trên cơ sở yêu cầu của các bên nhằm công khai hoá thông tin. Việc Thông tư số 08/2018/TT-BTP dừng ở quy định giá trị pháp lý của đăng ký hợp đồng là nhằm công khai hoá thông tin, không nhằm xác lập hiệu lực đối kháng của hợp đồng chuyển giao khoản phải thu để làm căn cứ cho bên nhận chuyển giao hưởng quyền ưu tiên như trong đăng ký biện pháp bảo đảm là phù hợp. Bởi lẽ, Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định và giới hạn phạm vi các biện pháp bảo đảm (được định danh bằng tên gọi cụ thể), không quy định mở về biện pháp bảo đảm theo thỏa thuận của các bên hoặc theo quy định của pháp luật như khoản 2 Điều 318 Bộ luật Dân sự năm 2005 và vì vậy, Nghị định số 21/2021/NĐ-CP ngày 19/3/2021 của Chính phủ quy định thi hành Bộ luật Dân sự về bảo đảm thực hiện nghĩa vụ (thay thế Nghị định số 163/2006/NĐ-CP) không còn quy định về nguyên tắc phân định thứ tự ưu tiên giữa bên nhận chuyển giao khoản phải thu với bên nhận thế chấp khoản phải thu dựa trên thời điểm đăng ký quyền như khoản 4 Điều 22 Nghị định số 163/2006/NĐ-CP. Do đó, với vị thế của văn bản dưới luật, Thông tư số 08/2018/TT-BTP không thể quy định về giá trị pháp lý của đăng ký hợp đồng chuyển giao khoản phải thu theo nội hàm của đăng ký biện pháp bảo đảm.
Vấn đề đặt ra là, trong chuỗi kinh doanh, cung ứng hàng hóa, thực tiễn sẽ luôn hiện hữu tình huống, khách hàng vừa xác lập hợp đồng chuyển giao khoản phải thu, vừa xác lập biện pháp thế chấp khoản phải thu cho bên thứ ba. Trong trường hợp này, mối quan hệ và việc phân định thứ tự ưu tiên bảo vệ quyền và lợi ích giữa bên nhận chuyển giao với bên nhận thế chấp đối với giá trị khoản phải thu được giải quyết như thế nào. Liên quan đến vấn đề này, pháp luật hiện hành đang bỏ ngỏ. Về mặt pháp lý, vì hợp đồng chuyển giao khoản phải thu không phải là biện pháp bảo đảm nên lẽ dĩ nhiên, Điều 308 Bộ luật Dân sự năm 2015 không thể là căn cứ để phân định và giải quyết thứ tự ưu tiên thanh toán giữa bên nhận chuyển giao khoản phải thu với bên nhận thế chấp khoản phải thu. Trong tiếp cận chung đó, đăng ký không phải là căn cứ để xác định thứ tự ưu tiên thanh toán giữa bên nhận chuyển giao khoản phải thu và bên nhận thế chấp khoản phải thu mà là căn cứ xác định tính ngay tình của các bên khi xác lập quyền đối với khoản phải thu. Điều này cho thấy sự chưa rõ ràng trong quy định của pháp luật thực định về giá trị pháp lý của đăng ký trong việc bảo vệ quyền của bên tài trợ vốn dựa trên giá trị khoản phải thu (được xác lập thông qua hợp đồng chuyển giao khoản phải thu) trong mối quan hệ với việc bảo vệ quyền của bên nhận thế chấp khoản phải thu (được xác lập thông qua hợp đồng thế chấp).
3. Một số gợi mở hoàn thiện pháp luật
Để tạo khung pháp lý hoàn thiện cho tài trợ vốn dựa trên giá trị khoản phải thu, trước hết cần đi từ luật chung là Bộ luật Dân sự. Với vị thế là Bộ luật “quy định địa vị pháp lý, chuẩn mực pháp lý về cách ứng xử của cá nhân, pháp nhân; quyền, nghĩa vụ về nhân thân và tài sản của cá nhân, pháp nhân trong các quan hệ được hình thành trên cơ sở bình đẳng, tự do ý chí, độc lập về tài sản và tự chịu trách nhiệm”[5], Bộ luật Dân sự năm 2015 cần tiếp cận cởi mở và hiện đại hơn về biện pháp bảo đảm. Theo đó, cần thừa nhận hợp đồng chuyển giao khoản phải thu là một giao dịch bảo đảm như bản chất vốn có của nó trong Bộ luật Dân sự. Trên tinh thần đó, Bộ luật Dân sự không nên quy định về từng biện pháp bảo đảm được định danh bằng một tên gọi cụ thể và giới hạn điều chỉnh trong phạm vi các biện pháp bảo đảm đó mà quy định về giao dịch bảo đảm dựa trên bản chất và chức năng thương mại của giao dịch dân sự là xác lập một quyền lợi được bảo đảm thực hiện để xác định giao dịch dân sự đó là giao dịch bảo đảm. Trên nguyên lý này, pháp luật về giao dịch bảo đảm sẽ áp dụng và điều chỉnh đối với tất cả các loại hình giao dịch dân sự có chức năng bảo đảm cho một lợi ích, bao gồm hợp đồng chuyển giao khoản phải thu, không phụ thuộc vào hình thức và tên gọi của giao dịch[6]. Trên cơ sở tiếp cận về giao dịch bảo đảm theo nguyên lý nêu trên, pháp luật sẽ phải định vị lại vai trò của đăng ký đối với hợp đồng chuyển giao khoản phải thu như bản chất vốn có của nó là xác lập hiệu lực đối kháng của hợp đồng với người thứ ba, và là căn cứ phân định quyền ưu tiên của bên nhận chuyển giao khoản phải thu với các bên khác có quyền và lợi ích đối kháng cùng xác lập trên khoản phải thu của bên được cung ứng vốn./.
Nguyễn Quang Hương Trà - Cục Đăng ký giao dịch bảo đảm và Bồi thường nhà nước
[1] Gregory F. Udell (2018), Tài trợ vốn dựa trên giá trị tài sản bảo đảm, Nhà xuất bản Lao động – Xã hội, Hà Nội, trang 17.
[2] Trong bài viết này, chúng tôi chỉ hướng đến phân tích các khoản phải thu phát sinh từ hợp đồng.
[3] Gregory F. Udell (2018), Tài trợ vốn dựa trên giá trị tài sản bảo đảm, Nhà xuất bản Lao động – Xã hội, Hà Nội, trang 170 - 171.
[4] Nghị định số 163/2006/NĐ-CP ngày 29/12/2006 về giao dịch bảo đảm (được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 11/2012/NĐ-CP ngày 22/02/2012).
[5] Điều 1 Bộ luật Dân sự năm 2015.
[6] Trần Quang Hồng (2018), Pháp luật giao dịch bảo đảm của Úc và kinh nghiệm cho Việt Nam. Tài liệu nghiên cứu của Cục Đăng ký quốc gia giao dịch bảo đảm phối hợp với Dự án Jica thực hiện.